Chủ Nghĩa Khắc Kỷ – Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản – William B. Irvine

Chủ Nghĩa Khắc Kỷ - Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản - William B. Irvine

Thể Loại Kiến Thức Bách Khoa
Tác Giả William B. Irvine
NXB NXB Công Thương
CTy Phát Hành Thái Hà
Số Trang 370
Ngày Xuất Bản 02 – 2020
Xem Giá Bán Trên FAHASA T I K I SHOPEE

I. Giới thiệu sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ

Chủ Nghĩa Khắc Kỷ – Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản

Bạn mong muốn điều gì từ cuộc sống này? Có thể câu trả lời của bạn là muốn có một người bạn đời biết quan tâm, một công việc tốt và một ngôi nhà đẹp, nhưng chúng thực ra chỉ là một số thứ bạn muốn có trong cuộc sống. Khi hỏi bạn mong muốn điều gì từ cuộc sống này, tôi đang hỏi theo nghĩa rộng nhất. Tôi không hỏi về những mục tiêu mà bạn đề ra khi thực hiện các hoạt động hằng ngày, mà tôi đang hỏi về mục tiêu lớn lao trong cuộc sống của bạn. Nói cách khác, trong số những thứ bạn có thể theo đuổi trong cuộc sống, thứ nào bạn tin là có giá trị nhất?

Nhiều người sẽ khó lòng nêu ra được mục tiêu này. Họ biết mình muốn gì trong từng phút một hoặc thậm chí từng thập kỷ một trong suốt cuộc đời mình, nhưng họ chưa bao giờ dành thời gian để suy ngẫm về mục tiêu sống lớn lao của bản thân. Chuyện này có lẽ cũng dễ hiểu. Nền văn hóa của chúng ta vốn không khuyến khích mọi người nghĩ về những điều như vậy, mà chỉ tạo ra hết xao lãng này đến xao lãng khác, để chúng ta không bao giờ phải bận tâm đến chúng. Nhưng một mục tiêu lớn lao trong đời là thành phần đầu tiên của một triết lý sống. Nếu bạn không có một mục tiêu lớn lao trong đời, tức là bạn không có một triết lý sống chặt chẽ.

Nhưng tại sao có một triết lý sống lại quan trọng? Vì nếu không có nó, bạn sẽ có nguy cơ sống lầm lạc – bất kể bạn đã làm gì, bất kể mọi niềm vui thú mà bạn đã thụ hưởng lúc sinh thời, chung quy bạn vẫn sẽ sống một cuộc đời tồi tệ. Nói cách khác, có nguy cơ là lúc bạn đang nằm hấp hối trên giường, bạn sẽ nhìn lại và nhận ra rằng mình đã uổng phí một cơ hội sống. Thay vì dành cuộc đời mình để theo đuổi điều gì đó thực sự đáng giá, bạn đã phung phí nó khi mặc cho bản thân bị xao lãng trước vô số thứ phù phiếm mà cuộc đời đưa đến.

Giờ giả sử bạn đã xác định được mục tiêu lớn lao trong đời mình. Và bạn cũng biết rõ tại sao mục tiêu này lại đáng để phấn đấu. Dù thế, bạn vẫn có nguy cơ sống lầm lạc. Bạn có thể sẽ không đạt được mục tiêu này, nhất là nếu không có một chiến lược hiệu quả. Do đó, thành phần thứ hai của một triết lý sống là một chiến lược để đạt được mục tiêu lớn lao của bạn. Chiến lược này sẽ chỉ rõ cho bạn phải làm những gì trong cuộc sống hằng ngày, từ đó tối đa hóa khả năng đạt được điều mà bạn xem là đáng giá nhất trong cuộc đời mình.

Cuốn sách này dành cho những người đang tìm kiếm một triết lý sống. Trong các trang tiếp theo, tôi sẽ tập trung vào một triết lý mà tôi thấy hữu ích và tôi nghĩ rằng nhiều độc giả cũng sẽ thấy như vậy. Đó là triết lý của trường phái Khắc kỷ cổ đại. Tuy triết lý sống này đã lâu đời nhưng ngày nay nó xứng đáng nhận được sự chú ý của bất kỳ cá nhân nào mong muốn có được một cuộc sống vừa ý nghĩa vừa trọn vẹn – những người mong muốn có được một cuộc sống tốt đẹp.

Nói cách khác, cuốn sách này đưa ra lời khuyên mọi người nên sống như thế nào. Đúng hơn, tôi sẽ là cầu nối mang đến cho bạn lời khuyên của các triết gia Khắc kỷ từ hai ngàn năm trước. Đây là điều mà các triết gia đồng nghiệp của tôi thường miễn cưỡng thực hiện, nhưng nói đi cũng phải nói lại, họ chủ yếu quan tâm đến “tính học thuật” của triết học; tức là họ chuyên nghiên cứu về lý thuyết hoặc lịch sử. Ngược lại, tôi quan tâm đến tính thực tiễn của chủ nghĩa Khắc kỷ: mục tiêu của tôi là áp dụng triết lý này vào cuộc sống của mình và khuyến khích người khác áp dụng nó vào cuộc sống của họ. Tôi cho rằng các triết gia Khắc kỷ cổ đại sẽ khuyến khích cả hai đường hướng này, nhưng họ cũng sẽ khẳng định rằng lý do chính để tìm hiểu về chủ nghĩa Khắc kỷ là nhằm áp dụng nó vào thực tiễn.

Điểm nữa cần hiểu rõ là mặc dù chủ nghĩa Khắc kỷ là một triết lý, nhưng nó cũng bao hàm cả yếu tố tâm lý. Các nhà Khắc kỷ nhận ra rằng một cuộc sống đầy rẫy cảm xúc tiêu cực – bao gồm tức giận, lo lắng, sợ hãi, đau buồn và ghen tị – không phải là một cuộc sống tốt đẹp. Do đó, họ trở thành những nhà quan sát nhạy bén về hoạt động của tâm trí con người và kết quả là trở thành một số nhà tâm lý học uyên bác nhất thời cổ đại. Họ tiếp tục phát triển các kỹ thuật để ngăn không cho các cảm xúc tiêu cực xuất hiện và để dập tắt chúng khi những nỗ lực ngăn chặn thất bại. Ngay cả những độc giả không tin tưởng phương pháp suy diễn của triết học cũng nên quan tâm đến các kỹ thuật này. Suy cho cùng, ai lại không muốn giảm bớt số lượng cảm xúc tiêu cực trong cuộc sống hằng ngày cơ chứ?

Mặc dù tôi đã nghiên cứu triết học trong suốt cả quãng đời trưởng thành, nhưng thực ra mãi cho đến thời gian gần đây, vốn kiến thức của tôi về chủ nghĩa Khắc kỷ vẫn còn nghèo nàn vô cùng. Các giảng viên đại học và cao học chưa từng yêu cầu tôi tìm đọc các triết gia Khắc kỷ, và mặc dù cũng ham đọc sách, nhưng tôi lại không có nhu cầu tìm đọc họ. Nhìn chung, tôi không có nhu cầu chiêm nghiệm về một triết lý sống nào cả. Thay vào đó, như hầu hết mọi người, tôi cảm thấy thoải mái với thứ triết lý sống mặc định: theo đuổi tiền tài, địa vị xã hội và lạc thú. Có thể xem triết lý sống của tôi là một dạng chủ nghĩa khoái lạc khai ngộ.

Thế nhưng, ở độ tuổi ngoài 40, dòng đời bắt đầu đưa đẩy tôi tiếp xúc với chủ nghĩa Khắc kỷ. Đầu tiên phải kể đến cuốn tiểu thuyết A Man in Full của Tom Wolfe xuất bản năm 1998. Trong truyện, một nhân vật tình cờ phát hiện ra triết gia Khắc kỷ Epictetus và sau đó luôn nhiệt tình trích dẫn triết lý sống của ông. Tôi thấy điều này vừa hấp dẫn lại vừa khó hiểu.

Hai năm sau, tôi bắt đầu tiến hành nghiên cứu để viết một cuốn sách về chủ đề ham muốn. Trong quá trình này, tôi xem xét những lời khuyên đã được đưa ra suốt hàng thiên niên kỷ qua về việc làm chủ ham muốn. Tôi bắt đầu tìm hiểu quan điểm của các tôn giáo về ham muốn, bao gồm Cơ Đốc giáo, Ấn Độ giáo, Đạo giáo, Sufi giáo và Phật giáo (nhất là Thiền tông). Tôi tiếp tục xem xét lời khuyên về cách làm chủ ham muốn của các triết gia phương Tây nhưng nhận thấy chỉ có một số ít người đề cập đến vấn đề này, nổi bật là các triết gia Hy Lạp cổ đại thuộc trường phái Epicurean, trường phái Hoài nghi và trường phái Khắc kỷ.

Thực ra, tôi có một động cơ sâu xa khi nghiên cứu về chủ đề ham muốn. Từ lâu tôi đã mến mộ Thiền tông và nghĩ rằng nếu chiêm nghiệm kỹ hơn về nó trong quá trình nghiên cứu, tôi có thể trở thành một Thiền sư thực thụ. Thế nhưng, tôi bất ngờ phát hiện ra một số điểm tương đồng giữa chủ nghĩa Khắc kỷ và Thiền tông. Chẳng hạn, cả hai đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc suy ngẫm về bản chất tạm thời của thế giới xung quanh chúng ta và tầm quan trọng của việc làm chủ ham muốn, trong giới hạn khả năng cho phép. Họ cũng khuyên chúng ta theo đuổi sự bình thản và đưa ra chỉ dẫn để đạt đến và duy trì được trạng thái này. Ngoài ra, tôi cũng nhận thấy chủ nghĩa Khắc kỷ phù hợp với bản tính ưa phân tích mọi sự của tôi hơn là Phật giáo. Kết quả là tôi nghĩ đến chuyện trở thành một người thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ, thay vì là một người tu tập Thiền tông.

Trước khi bắt đầu nghiên cứu về ham muốn, đối với tôi, chủ nghĩa Khắc kỷ là một triết lý sống không thiết thực, nhưng khi đọc tác phẩm của các triết gia Khắc kỷ, hóa ra hầu hết mọi điều tôi từng biết về họ đều sai bét. Đầu tiên, tôi biết rằng từ điển định nghĩa một người Khắc kỷ là “người dường như lãnh đạm hoặc không bị ảnh hưởng bởi niềm vui, nỗi buồn, khoái lạc hay đau đớn”. Vì vậy, tôi tưởng họ là những người hay kìm nén cảm xúc. Thế nhưng, tôi khám phá ra rằng mục tiêu của chủ nghĩa Khắc kỷ không phải là loại trừ cảm xúc khỏi cuộc sống mà là loại trừ những cảm xúc tiêu cực.

Khi đọc các tác phẩm của chủ nghĩa Khắc kỷ, tôi bắt gặp những cá nhân vui vẻ và lạc quan về cuộc sống (mặc dù họ luôn dành thời gian để suy nghĩ đến tất cả những viễn cảnh tồi tệ có thể xảy ra với họ), những cá nhân có khả năng tận hưởng trọn vẹn những thú vui của cuộc sống (đồng thời cũng thận trọng để không trở thành nô lệ cho những thú vui đó). Ngạc nhiên làm sao, tôi cũng bắt gặp những cá nhân coi trọng niềm vui; quả thực, theo Seneca, điều mà các nhà Khắc kỷ cố gắng khám phá là “cách tâm trí có thể luôn luôn theo đuổi một lộ trình kiên định và thuận lợi, có khuynh hướng tích cực đối với chính nó, và nhìn nhận được các trạng thái của nó bằng niềm vui”. Ông cũng khẳng định rằng người thực hành các nguyên tắc Khắc kỷ “cần phải luôn, dù anh ta có muốn hay không, cảm thấy hân hoan và có một niềm vui sâu sắc phát xuất từ bên trong, bởi lẽ anh ta thích thú với những nguồn vui của riêng mình, và không hề khao khát niềm vui nào lớn hơn những niềm vui nội tại này”. Tương tự, triết gia Khắc kỷ Musonius Rufus nói rằng nếu sống theo những nguyên tắc Khắc kỷ thì chúng ta tất có được “tâm tính vui vẻ và niềm vui bền vững”.

Thay vì sống thụ động, nhẫn nhục cam chịu sự bất công và bạo hành của thế giới, các nhà Khắc kỷ đã nỗ lực trọn đời để biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn. Chẳng hạn như Cato Trẻ, triết lý sống Khắc kỷ của Cato không hề ngăn cản ông dũng cảm đấu tranh để khôi phục nền Cộng hòa La Mã. (Tuy không đóng góp tác phẩm nào cho chủ nghĩa Khắc kỷ, nhưng Cato là một nhà Khắc kỷ; kỳ thực, Seneca xem ông là một nhà Khắc kỷ hoàn hảo.) Cũng vậy, Seneca dường như luôn tràn đầy nhiệt huyết: không chỉ là một triết gia, ông còn là một nhà soạn kịch thành công, cố vấn chính trị cho hoàng đế, và có thể xem là một chủ ngân hàng đầu tư vào thời đó. Và Marcus Aurelius, ông không chỉ là một triết gia mà còn là một hoàng đế La Mã – kỳ thực, ông được xem là một trong những hoàng đế La Mã vĩ đại nhất. Khi đọc về các nhà Khắc kỷ, tôi cảm thấy vô cùng thán phục họ. Họ dũng cảm, chừng mực, lý trí và kỷ luật – những phẩm chất mà tôi muốn có. Họ cũng cho rằng điều quan trọng đối với chúng ta là làm trọn bổn phận của mình và giúp đỡ đồng loại – những giá trị mà tôi sẽ chia sẻ.

Trong quá trình nghiên cứu về chủ đề ham muốn, tôi khám phá ra rằng những nhà tư tưởng đều nhất trí một điều, đó là nếu không vượt qua được thói tham lam vô độ, không biết thỏa mãn của mình, chúng ta sẽ khó lòng có được một cuộc sống tốt đẹp và ý nghĩa. Họ cũng nhất trí rằng cách thức hữu hiệu giúp chúng ta chế ngự xu hướng lúc nào cũng muốn có nhiều hơn này là thuyết phục bản thân muốn những thứ mình đã có sẵn. Đây dường như là một tri kiến quan trọng, nhưng nó đặt ra một câu hỏi rằng chính xác thì chúng ta cần phải làm gì để đạt được điều đó. Tôi vui mừng khi phát hiện ra rằng các nhà Khắc kỷ đã có lời giải cho câu hỏi này. Họ đã phát triển một kỹ thuật khá đơn giản, nếu được thực hành, có thể giúp chúng ta hân hoan với con người hiện tại của mình, dù chỉ trong một khoảng thời gian, sống cuộc đời mà chúng ta đang sống, bất kể cuộc đời đó có ra sao đi nữa.

Càng nghiên cứu về chủ nghĩa Khắc kỷ, tôi càng bị cuốn vào triết lý của họ. Nhưng khi nổi hứng chia sẻ với người khác về chủ nghĩa Khắc kỷ, tôi sớm nhận ra rằng không chỉ có mỗi tôi hiểu sai về triết lý này. Bạn bè, người thân và ngay cả đồng nghiệp của tôi ở trường đại học dường như đều cho rằng các nhà Khắc kỷ là những người đặt mục tiêu kìm nén mọi cảm xúc và do đó sống một cuộc đời lãnh đạm và tẻ nhạt. Tôi chợt nhận ra rằng các nhà Khắc kỷ là nạn nhân của những định kiến sai lầm.

Chỉ riêng vấn đề này cũng đã đủ thôi thúc tôi viết một cuốn sách về các nhà Khắc kỷ – một cuốn sách sẽ đính chính lại sự thật – nhưng trong quá trình viết, tôi dần có một động lực thứ hai thậm chí còn mạnh mẽ hơn. Sau khi nghiên cứu chủ nghĩa Khắc kỷ, tôi bắt đầu thử sống theo triết lý này một cách có chừng mực. Đến nay, thử nghiệm đã thành công đến mức tôi nóng lòng muốn loan báo cho cả thế giới những gì mà tôi khám phá được, vì tôi tin rằng mọi người đều có thể thu được lợi ích từ việc nghiên cứu các nhà Khắc kỷ và áp dụng triết lý sống của họ.

Vào thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, nếu ai đó muốn trở thành người Khắc kỷ, họ có thể gia nhập một trường học của phái Khắc kỷ. Nhưng điều này hiện không còn khả thi, nếu muốn trở thành người Khắc kỷ, bạn chỉ có thể tham khảo tác phẩm của các nhà Khắc kỷ thời cổ đại, nhưng bạn sẽ phát hiện ra rằng nhiều tác phẩm trong số đó đã bị thất lạc, nhất là tác phẩm của các nhà Khắc kỷ Hy Lạp. Hơn nữa, nếu đọc các tác phẩm còn sót lại, bạn sẽ thấy mặc dù chúng trình bày và phân tích chi tiết về chủ nghĩa Khắc kỷ nhưng lại không đưa ra một giáo án dành cho những người mới học về chủ nghĩa Khắc kỷ. Thách thức mà tôi đối mặt trong quá trình viết cuốn sách này là xây dựng một kế hoạch như vậy từ những manh mối rải rác trong các tác phẩm của chủ nghĩa Khắc kỷ.

Mặc dù phần còn lại của cuốn sách sẽ cung cấp các hướng dẫn chi tiết để thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ, nhưng tôi xin phép mô tả sơ bộ ở đây một số điều cần phải làm nếu chúng ta lựa chọn chủ nghĩa Khắc kỷ làm triết lý sống.

Chúng ta sẽ xem xét lại các mục tiêu trong cuộc sống. Đặc biệt, chúng ta sẽ thuộc nằm lòng tuyên ngôn của phái Khắc kỷ, rằng nhiều thứ mà chúng ta khao khát vốn dĩ chẳng đáng để theo đuổi, nhất là danh vọng và của cải. Thay vào đó, chúng ta tập trung theo đuổi sự bình thản và cái mà các nhà Khắc kỷ gọi là đức hạnh. Chúng ta sẽ khám phá ra rằng đức hạnh của phái Khắc kỷ không giống với những gì con người thời nay nghĩ về từ này. Chúng ta cũng sẽ khám phá ra rằng sự bình thản mà các nhà Khắc kỷ truy cầu không phải là trạng thái bình thản có thể đạt được bằng cách uống thuốc an thần; nói cách khác, đó không phải là một trạng thái giống như thây ma. Thay vì vậy, nó là một trạng thái không có các cảm xúc tiêu cực, chẳng hạn như tức giận, đau buồn, lo âu và sợ hãi, mà chỉ có những cảm xúc tích cực – đặc biệt là niềm vui.

Chúng ta sẽ nghiên cứu các kỹ thuật tâm lý đã được các nhà Khắc kỷ phát triển nhằm đạt được và duy trì sự bình thản, đồng thời sử dụng các kỹ thuật này vào cuộc sống hằng ngày. Ví dụ, chúng ta sẽ cẩn thận phân biệt giữa những thứ mình có thể kiểm soát và không thể kiểm soát, nhờ đó không còn bận tâm đến những thứ không thể kiểm soát và tập trung vào những thứ có thể kiểm soát. Chúng ta cũng sẽ nhận ra rằng người khác dễ dàng làm xáo trộn sự bình thản của chúng ta như thế nào, và do đó sẽ thực hành các chiến lược của phái Khắc kỷ để ngăn không cho họ quấy nhiễu chúng ta.

Cuối cùng, chúng ta sẽ quan sát chính cuộc sống của mình một cách sâu sắc hơn. Chúng ta sẽ dõi theo bản thân khi thực hiện các công việc hằng ngày, sau đó suy ngẫm về những điều chúng ta thấy, cố gắng xác định những nguồn cơn gây ra đau khổ trong đời mình và tìm cách ngăn ngừa nỗi đau khổ đó.

Thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ rõ ràng sẽ đòi hỏi sự nỗ lực, nhưng điều này đúng với tất cả các triết lý sống chân chính. Thật thế, ngay cả chủ nghĩa “khoái lạc khai ngộ” cũng đòi hỏi sự nỗ lực. Mục tiêu lớn lao trong cuộc sống của những người theo chủ nghĩa khoái lạc khai ngộ là tối đa hóa những lạc thú mà anh ta trải nghiệm trong suốt cuộc đời. Để thực hành triết lý sống này, anh ta sẽ phải dành thời gian tìm tòi, khám phá, xếp hạng các loại lạc thú và rà soát mọi tác dụng phụ không mong muốn có thể phát sinh. Sau đó, người theo chủ nghĩa khoái lạc khai ngộ sẽ đưa ra các chiến lược nhằm tối đa hóa những lạc thú mà anh ta trải nghiệm. (Chủ nghĩa khoái lạc mê muội, mà ở đó người thực hành tìm kiếm sự thỏa mãn ngắn hạn một cách thiếu cân nhắc, theo tôi là một triết lý sống không nhất quán.)

Thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ có lẽ sẽ đòi hỏi sự nỗ lực lớn hơn so với thực hành chủ nghĩa khoái lạc khai ngộ, nhưng lại dễ dàng hơn so với thực hành Thiền Tông. Một Phật tử Thiền tông sẽ phải thiền, một sự tu tập vừa mất nhiều thời gian vừa khó về mặt thể chất và tinh thần. Ngược lại, thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ không đòi hỏi chúng ta dành riêng một khoảng thời gian để “tập Khắc kỷ”. Mặc dù chúng ta cần phải định kỳ suy ngẫm về cuộc đời mình, nhưng nhìn chung là khoảng thời gian suy ngẫm này có thể chèn vào những thời điểm rảnh rỗi trong ngày, chẳng hạn như khi chúng ta bị kẹt xe hoặc – theo lời khuyên của Seneca – khi chúng ta đang nằm trên giường và chuẩn bị ngủ.

Khi đánh giá các “chi phí” gắn liền với việc thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ hoặc bất kỳ triết lý sống nào khác, độc giả cần phải nhận thức rằng việc không có một triết lý sống cũng khiến bạn phải trả giá. Tôi đã chỉ ra một cái giá phải trả: nguy cơ bạn sẽ dành những tháng ngày cuộc đời theo đuổi những thứ không có giá trị và dẫn đến lãng phí cuộc đời mình.

Có thể lúc này, một số độc giả sẽ tự hỏi liệu việc thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ có phù hợp với đức tin tôn giáo của họ hay không. Đối với phần lớn các tôn giáo, tôi nghĩ là có. Những người theo đạo Cơ Đốc nói riêng sẽ thấy những giáo lý của chủ nghĩa Khắc kỷ cộng hưởng với các quan điểm tôn giáo của họ. Chẳng hạn, họ cũng mong muốn đạt được sự bình thản giống như các nhà Khắc kỷ, mặc dù những người theo đạo Cơ Đốc có thể gọi nó là sự bình an. Họ sẽ đánh giá cao lời huấn thị “yêu thương nhân loại” của Marcus Aurelius. Và khi những người theo đạo Cơ Đốc bắt gặp luận điểm của Epictetus rằng có những thứ nằm trong tầm kiểm soát và có những thứ không nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta, và rằng nếu có nhận thức, chúng ta sẽ tập trung năng lượng vào những thứ nằm trong tầm kiểm soát, họ sẽ được gợi nhắc về Lời cầu nguyện Bình an vốn thường được cho là sáng tác của nhà thần học Reinhold Niebuhr.

Tôi cần phải nói thêm rằng ngay cả những người theo thuyết bất khả tri cũng hoàn toàn có thể đồng thời thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ Phần còn lại của cuốn sách này được chia làm bốn phần. Trong phần 1, tôi trình bày sự hình thành của triết học. Mặc dù các triết gia hiện đại thường dành cả đời để tranh luận về các chủ đề trừu tượng, nhưng mục tiêu chính của hầu hết các triết gia cổ đại là giúp người bình thường sống tốt hơn. Như chúng ta sẽ thấy, chủ nghĩa Khắc kỷ là một trong những trường phái triết học cổ đại phổ biến và thành công nhất.

Trong phần 2 và 3, tôi giải thích những gì chúng ta cần phải làm để thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ. Mở đầu là các kỹ thuật tâm lý đã được chủ nghĩa Khắc kỷ phát triển để đạt đến và sau đó là duy trì sự bình thản. Kế tiếp, tôi sẽ đưa ra lời khuyên của phái Khắc kỷ về cách đối phó hiệu quả nhất với những căng thẳng trong cuộc sống thường ngày: Chẳng hạn, chúng ta nên phản ứng như thế nào khi bị người khác xúc phạm? Mặc dù nhiều thứ đã thay đổi trong hai thiên niên kỷ qua, nhưng tâm lý con người thì không mấy thay đổi. Do đó, những người đang sống ở thế kỷ hai mốt có thể gặt hái được lợi ích từ lời khuyên vốn được các triết gia như Seneca đưa ra cho người La Mã ở thế kỷ thứ nhất.

Cuối cùng, trong phần 4 của cuốn sách, tôi bảo vệ chủ nghĩa Khắc kỷ trước những lời chỉ trích, cũng như đánh giá lại tâm lý học Khắc kỷ dưới ánh sáng của các phát hiện khoa học hiện đại. Tôi kết thúc cuốn sách bằng cách thuật lại những nhận thức mà mình đã đạt được trong quá trình thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ.

Các học giả đồng nghiệp của tôi có thể hứng thú với cuốn sách này; chẳng hạn họ tò mò xem tôi diễn giải những phát biểu của chủ nghĩa Khắc kỷ như thế nào. Tuy nhiên, đối tượng độc giả chính mà tôi hướng đến là những cá nhân bình thường, những người băn khoăn không biết bản thân có đang sống lầm lỗi hay không. Đối tượng này gồm những người dần nhận ra rằng họ thiếu một triết lý sống nhất quán và hậu quả là họ đang lúng túng trong các hoạt động thường ngày của mình: những thành quả họ đạt được ngày hôm nay lại phủi sạch những thành quả đã đạt được ngày hôm trước. Đồng thời, tôi cũng hướng đến những người đã có một triết lý sống nhưng lo ngại rằng triết lý đó phần nào khiếm khuyết.

Trong quá trình viết cuốn sách này, tôi luôn đặt ra trong đầu câu hỏi: Nếu các nhà Khắc kỷ cổ đại đảm nhận trọng trách viết một cuốn sách hướng dẫn cho những người sống ở thế kỷ hai mốt – một cuốn sách chỉ cho chúng ta cách có được một cuộc sống tốt đẹp – thì cuốn sách đó sẽ như thế nào. Các trang tiếp theo là câu trả lời của tôi cho câu hỏi này.” Chia sẻ của tác giả William B.Irvine tới bạn đọc!

Thông tin tác giả William B.Irvine

Tác giả William B. Irvine

William B. Irvine là một trong những nhà nghiên cứu triết học đáng chú ý tại Mỹ hiện nay. Ông theo trường phái khắc kỷ và có nhiều đóng góp quan trọng. Đồng thời cũng giúp đơn giản hóa những triết lý vốn dĩ đã giản đơn của chủ nghĩa khắc kỷ. Giúp chúng ta nhìn nhận lại cuộc sống và sống đời hạnh phúc đích thực.

William B. Irvine lớn lên ở khắp các thị trấn có hoạt động khai mỏ, chủ yếu ở Montana và Nevada. Bởi gia đình phải di chuyển theo các dự án mà cha ông – làm kỹ sư xây dựng đi đến. Bản thân William cho rằng ông đã từng sống ở một số địa danh khá kỳ lạ. Đó là Schroeder, Minnesota (trên bờ phía bắc của Hồ Superior; dân số hiện tại, 187) và Tocopilla, Chile.

Bắt đầu từ thời cao học, William B. Irvine cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác tập trung vào những chủ đề “triết học thuần túy”. Hầu hết đề tài đều là những vấn đề mà giới triết học quan tâm. Cho đến sau Luận án Tiến sĩ “Russell’s Construction of Space from Perspectives.”, quan điểm của ông đã thay đổi.

William B. Irvine nhìn nhận triết học không giống thông thường, ông gắn liền nó với đời sống. Chẳng hạn như các khía cạnh đạo đức liên quan đến tài chính. Hay vấn đề đạo đức và chính trị trong nuôi dạy con cái. Mục tiêu của Irvine là những chủ đề triết học có thể được đọc bởi những người bình thường nhất. Để họ có thể suy nghĩ thận trọng hơn những vấn đề trong cuộc sống.

Và điều quan trọng nhất: William B. Irvine yêu thích, tin tưởng và thực hành chủ nghĩa khắc kỷ. Một trường phái triết học nổi tiếng bậc nhất cho đến thế kỷ 3 công nguyên ở Hy Lạp và La Mã.

II. Review sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ

Review sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ - Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản - William B. Irvine

LINK GIẢM GIÁ FAHASA T I K I SHOPEE

Dưới đây là tổng hợp Review sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ – Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản của tác giả William B. Irvine. Giúp bạn có cái nhìn tổng quan nhất về cuốn sách mà không cần mất thời gian tìm kiếm.

Hãy truy cập Những Cuốn Sách Hay thường xuyên hoặc lưu lại để tiện theo dõi & cập nhật thông tin mới nhất nhé.

1. SÓI HOANG review sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ

“Chủ Nghĩa Khắc Kỷ – Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản” Một cuốn sách triết học, nó khó đọc, nhưng không khó hiểu.

Như tác giả nói, trong chúng ta, nhất định phải có một triết lý sống. Có thể bạn không theo chủ nghĩa Khắc kỷ nhưng nhất định phải có một triết lý sống. Tác giả chia cuốn sách làm 3 phần: lịch sử của chủ nghĩa Khắc kỷ, ứng dụng của chủ nghĩa Khắc kỷ và vài lời về chủ nghĩa Khắc kỷ cũng như việc mà tác giả thực hành nó.

Cuốn sách không đi sâu quá về lịch sử chủ nghĩa Khắc kỷ mà tập trung vào cách thực hiện chủ nghĩa Khắc kỷ hơn. Chủ nghĩa Khắc kỷ có từ rất lâu về trước nhưng không hề có một tài liệu nào đầy đủ cả, vì thế cuốn sách này được cấu tạo bởi nhiều nguồn tài liệu khác nhau được tác giả tổng hợp.

Chủ nghĩa Khắc kỷ hướng ta đến sự bình thản. Nó đang dần bị mai một và hiếm có ai đó thực hiện chủ nghĩa này. Có thể bạn không muốn thực hiện chủ nghĩa này, bạn có thể chọn một chủ nghĩa khác hợp với bản thân hơn. Dù bạn có muốn thực hiện nó hay không nhưng chắc hẳn bạn sẽ thấy mình ở đâu đó trong những tình huống tâm lý mà tác giả liệt kê. Thực hiện chủ nghĩa Khắc kỷ giúp bạn giảm bớt những lo lắng không đáng có, cách đáp trả những lời xúc phạm hay thực hiện tưởng tượng tiêu cực để thấy yêu, trân trọng cuộc sống, gia đình và đặc biệt là kìm hãm ham muốn, thỏa mãn với những gì đang có… Tất cả để tránh phá vỡ sự bình thản trong ta hay chí ít là giảm tác động của nó.

Đây là một cuốn sách rất hay về tâm lý, một lựa chọn triết lý sống. Một cuốn sách triết học nhưng không khó hiểu, một điều tôi không thể ngờ là nó có một sức hút nhất định chứ không khô khan.

Cuốn sách mà tôi muốn giới thiệu đến nhiều người hơn.

2. PHẠM VY review sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ

Rate 5/5

Đây là một cuốn sách triết học nhưng viết dễ hiểu và được dịch cực mượt nên dễ đọc lắm!

Có lẽ chủ nghĩ khắc kỷ (Stoicism) còn khá xa lạ với nhiều người, hiểu một cách nôm na thì là lối sống đề cao Đức hạnh và sự bình thản (chi tiết các bạn tự gg nhé) để có một cuộc sống bình an lâu dài bền vững.

Về phần cảm nhận có lẽ các bạn đọc nhiều review khác rồi nên mình sẽ đi sâu vào việc mình học và thực hành Chủ nghĩa khắc kỷ như thế nào nhé.

1. Kỹ thuật tưởng tượng tiêu cực

Ví dụ trong đại dịch Covid-19 này, mình hay nghĩ nếu mình mắc bệnh và chết thì sao? mình có thấy hối tiếc vì chưa làm được điều gì không? có ân hận vì không sống tốt hơn không? lúc này mình vẫn chưa chết, mình nên làm gì, cần làm gì để có cuộc sống như mình mong ước.

2. Phép lưỡng phân kiểm soát: chia ra gồm 3 thứ

  • Những thứ mà mình có thể hoàn toàn kiểm soát: thái độ sống , kiến thức, đạo đức…, mình cố hết sức để những thứ tốt nhất
  • Những thứ mà mình không thể kiểm soát: gia đình, thái độ của người khác với mình,…., buông, chấp nhận rồi sống với nó thôi, càng kiểm soát càng mệt.
  • Những thứ mà mình chỉ kiểm soát được một phần: nhan sắc, giọng nói,…, cố gắng để tốt hơn thôi nhưng không đặt kỳ vọng quá nhiều

VD khi mình làm radio, mình luôn cố gắng hết sức để tạo ra những nội dung tốt nhất cho người nghe. Còn việc mọi người thích hay ghét radio của mình thì mình không thể kiểm soát được, nên kệ thôi. Thế nên mình tự do để sáng tạo theo thứ mà mình nghĩ là hay ho mà không quan tâm xem người khác có phán xét mình hay không. Còn việc youtube có đề xuất radio của mình không thì mình chỉ kiểm soát được 1 phần :))) cố gắng làm theo vài mẹo và cúng thuật toán YT, còn thiêng hay không thì vạn sự tùy duyên thôi.

3. Khổ hạnh: Ứng phó với mặt tối của Khoái lạc

Năm nay là năm Gapyear của mình, mình được đến những vùng đất mới để xem ngoài cái giếng của mình cuộc sống có gì khác. Và đương nhiên đôi khi trải qua cuộc sống thiếu thốn, tắm nước lạnh, nhà nóng, đi bộ cả mười mấy km, không có nước sạch dùng,… Mình nhận ra mình rất may mắn với cuộc sống 18 năm qua, và mình trân trọng từng thứ hơn bao giờ hết. Hơn thế mình nhận ra nếu mình mất tât cả, cuộc sống cũng không quá đáng sợ, mình mạnh mẽ hơn mình nghĩ, mình vẫn trụ tốt với cuộc sống thiếu thốn này.

4. Thuyết định mệnh: Buông bỏ quá khứ

Mình không thể thay đổi quá khứ, nên chả việc vì phải hối hận về những điều mình đã làm, việc đáng hối hận nhất trên đời là hối hận.

5. Suy ngẫm: Quan sát bản thân thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ

Thời gian vừa qua mình có apply vào một Prj, trong bài luận tư do mình đã viết bài là tưởng tượng về một biến cố xảy ra và cách mình giải quyết nó. Mình đang quan sát bản thân đã thực hành Stoicism như thế nào. Mình có giải quyết vấn đề dựa trên lý trí và giá trị đạo đức mình theo đuổi hay không? mình có túng quẫn không ? làm sao để giải quyết thông minh nhất.

6. Nhìn nhận sự việc từ tương lai

Khi mình gặp 1 biến cố siêu to khổng lồ, mình hay nghĩ rằng chắc chắn một thời gian sau nhìn lại mình sẽ thấy sự việc này bé xíu, giống như điều tồi tệ mình vừa trải qua trước đó thôi. Ngủ một giấc và xem lại phép lưỡng phân kiểm soát

7. Khi gặp khó khăn

Mình hay nghĩ rằng đây không phải mỗi bản thân mình phải trải qua điều này, có nhiều người cũng như thế. Không việc gì phải tự bi kịch hóa
VD: Gần đây mình vừa bị mất blog, buồn gần chết, sau đó mình nghĩ chả phải mỗi mình bị thế, youtuber Giang ơi hồi trước còn bị mất kênh mấy trăm ngàn lượt đăng kí cơ. Thế nên nhẹ nhõm hẳn

8. Thấu cảm

Khi ai đó hành xử không tốt với mình. Thay vì xù lông nhím hay trả đũa, mình tìm hiểu vì sao họ như thế, hiểu cho họ và chọn cách giải quyết. Có thể tha thứ, hoặc có thể bỏ qua họ, dừng tiếp xúc 100% với họ

3. BACH TRAN QUANG review sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ

“Chủ Nghĩa Khắc Kỷ – Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản” Đây là một cách sống. Cuốn sách có nói một điều khá quan trọng: Đó là khi bạn không có triết lý sống cho riêng mình, thì sẽ luôn bị lạc đường. Cái này, 1,2 năm gần đây, tức là sau tuổi 30 mình mới nhận ra rõ ràng, và “vỡ mặt”.

Đọc xong mình cũng ồ à, hóa ra trước đó mình đã lọ mọ sống theo 1 kiểu “khắc kỷ” theo cách hiểu của riêng mình, nhưng đã được chỉ điểm rõ trong cuốn sách này.

Có những thứ bạn kiểm soát được, hãy cố kiểm soát nó. Có những thứ không, hãy cố chuẩn bị, tốt nhất có thể, và… quay về kiểm soát bản thân.

Mình mong có nhiều bạn đọc được cuốn này, nó không phải một dạng self help. Nó sẽ giúp bạn khai mở một số thứ, và hy vọng có thể thay đổi điều gì đó trong cuộc sống hối hả của mọi người.

Bản dịch khá ổn, dễ đọc và tiếp thu, nhưng cũng cần có 1 chút nền tảng để bắt đầu.

4. NGUYÊN TRANG review sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ

“Chủ Nghĩa Khắc Kỷ – Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản” Cuốn sách này đưa ra 2 vấn đề chính: 1. Chủ nghĩa khắc kỷ thường bị hiểu lầm và sự thật là gì, 2. Các biện pháp thực hiện chủ nghĩa khắc kỷ để có phong cách sống bình thản.

Ở vấn đề 1 thì đúng như mục tiêu của tác giả. Ông làm rõ được chủ nghĩa khắc kỷ các thời kỳ và khẳng định rằng, trái với nhiều người nghĩ, khắc kỷ không có nghĩa là sống thanh đạm. Bản thân tôi trước đây cũng từng nghĩ vậy và hay cười cợt Seneca khắc kỷ mà giàu vl =)))

Sang tới vấn đề thứ 2 là chi tiết cùng với các thực hành khắc kỷ thì phải nói là đọc trong trạng thái thờ ơ. Đầu tiên là lối viết rất giống sách self-help, tức là đưa ra rất nhiều lời khuyên mà có lẽ là đúng phần nào, nhưng chính vì nhiều nên thành ra helpless. Các chủ nghĩa lớn cơ bản đều có những triết lý rất đơn giản, kiểu one ring to rule them all vậy, như Phật giáo thì ta bám vào tính không còn hiện sinh là sống nguy hiểm. Từ một nguyên tắc chủ đạo, đánh vào tiềm thức nhiều hơn, người đọc sẽ tự mày mò ra những đường đi nước bước sau. Còn Khắc kỷ, như cách trình bày ở đây, quá nhỏ lẻ. Tất nhiên, nó hơn sách self-help vớ vẩn ở chỗ nó do những khối óc lớn nghĩ ra với các phương pháp đỉnh hơn.

Dù vậy, nói về bản chất các phương pháp Khắc kỷ thì đúng như một phần mục tiêu của nó là lôi kéo càng đông người càng tốt, chủ nghĩa này không rốt ráo. Cơ bản là cái nào cũng nước đôi để chiều nhiều người. Và như chính tác giả Irvine nhiều lần nhắc tới, nó là một phiên bản nhập môn của Thiền tông, dành cho những ai ít khả năng. Và đúng là với một người học Thiền như tôi (dù học chưa tới đâu) thì các nguyên tắc của khắc kỷ đều khá quen thuộc, đã áp dụng và ở nhiều điểm thì đã vượt qua các phương pháp đó.

Tóm lại là toàn bộ phần 2, sau khi đọc xong thì lọc được 3 cái gọi là mới mẻ với cá nhân tôi: 1 là khắc kỷ khuyên các bạn chết đi =)))) khuyên thế mới là khuyên chứ hoho =)))))) 2 là phương pháp hài hước những lời sỉ nhục nhục. Tôi chưa biết phương pháp này nhưng thấy đúng hay và sẽ áp dụng :”> và 3 là lời khuyên rằng mọi người nên sống theo một triết lý nào đó. Bản thân tôi thì xưa nay vẫn theo triết lý nhà Phât và tí ti (và ngược lại là) hiện sinh, tự nhiên :”> hihi nên lời khuyên không liên quan tới tôi mà chủ yếu là khi tôi nhìn những người xung quanh thì nhận ra rằng đúng cái họ thiếu là một triết lý sống. Tất nhiên, triết lý nào thì tùy mỗi người. Dù là chọn con đường nào, thì cũng phải đào sâu đi các bạn hoho

Chết, sỉ nhục, mỗi người cần sống triết lý.

5. NGUYỄN BÍCH NGỌC review sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ

[Review Sách] “Chủ Nghĩa Khắc Kỷ – Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản”: Hãy Đọc Nếu Bạn Đang Có “Một Cuộc Sống Lộn Xộn”

Bạn mong muốn điều gì từ cuộc sống này? Có thể câu trả lời của bạn là muốn có một người bạn đời biết quan tâm, một công việc tốt và một ngôi nhà đẹp, nhưng đó thực ra chỉ là những thứ bạn muốn có trong cuộc sống. Khi hỏi bạn mong muốn điều gì từ cuộc sống này, tôi đang hỏi theo nghĩa rộng nhất. Tôi không hỏi về những mục tiêu mà bạn để ra khi thực hiện các hoạt động hằng ngày, mà tôi đang hỏi về mục tiêu lớn lao trong cuộc sống của bạn. Nói cách khác, trong số những thứ bạn có thể theo đuổi trong cuộc sống, thứ nào bạn tin là có giá trị nhất? Trong vô vàn những triết lý sống, nếu bạn cần một hướng đi sống theo cách bạn muốn, đề cao sự bình an và mong muốn không ai có thể phá vỡ nó, vậy thì Chủ nghĩa Khắc kỷ: Phong cách sống bản lĩnh và bình thản là một lời gợi ý tuyệt vời dành cho bạn.

Không ai biết được chuyện của mười năm, hai mươi năm về sau, câu chuyện giả tưởng ngày bé có lẽ sẽ thành sự thực trong một tương lai gần. Các tác động bên ngoài dường như ngày một nhiều hơn, không rõ ràng và có thể thay đổi cuộc đời của một ai đó mãi mãi trước khi người đó kịp định hình lại mọi việc. Chuyện hôm nay đúng, tương lai có thể sai, thứ mà nay ta điên cuồng muốn sở hữu bằng bất cứ giá nào, sau này có thể ta không thèm ngó ngàng đến nữa. Vậy, ta còn lại gì? Ta còn một bánh xe vận mệnh đang quay cuồng điên đảo, mặc hôm nay là ngày mưa hay ngày nắng. Vì vậy, việc lái vào bùn lầy hay là đi trên đại lộ lại là chuyện cần quyết định lúc này. Để tay lái luôn đi đúng hướng, cũng như cuộc đời tiếp tục với quỹ đạo của nó, người tài xế hay bản thân mỗi chúng ta đều cần một triết lý sống cho riêng mình. Bất kể cuối cùng một người lựa chọn tuân theo triết lý sống nào, họ cũng sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn so với không có một triết lý sống nhất quán.

6. ĐỨC NHÂN review sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ

Chủ nghĩa khắc kỷ, William B. Irvine – Một triết lý sống hoàn thiện bản thân và vượt lên trên những điều tồi tệ nhất

Vậy thế nào là điều tồi tệ nhất trong mắt các nhà Khắc kỷ?

“Khi bạn chúc ngủ ngon và hôn con mình vào buổi tối, hãy nhớ rằng đứa trẻ có thể chết vào sáng hôm sau” — Epictetus nói.

“Đừng cầu nguyện cho bố mẹ, vợ con tránh khỏi điều tồi tệ nhất. Hãy cầu nguyện rằng bạn sẽ có đủ sức mạnh để chịu đựng được nếu việc đó xảy ra.” — Marcus Aurelius

Còn chúng ta thì sao? Nếu sáng thức dậy phải đối mặt với việc mất đi người thân yêu trong gia đình thì sẽ làm gì để vượt qua nỗi đau đó? Chúng ta sẽ làm gì nếu không có niềm tin vào tôn giáo, vào một kiếp sau sẽ gặp lại? Một phần câu trả lời đó nằm trong cuốn sách Chủ nghĩa khắc kỷ mà tác giả William B. Irvine tổng hợp được từ các nhà triết học Khắc kỷ nói riêng và triết học nói chung.

Vậy triết học Khắc kỷ là gì? Ai đã sáng lập ra và có ích lợi gì trong cuộc sống của chúng ta khi thực hành những gì mà triết học khắc kỷ yêu cầu?

1. Triết học khắc kỷ là gì?

Khắc kỷ – Stoic được rút gọi từ việc Zeno, người sáng lập phái khắc kỷ chuyên thuyết giảng cho học trò ở Stoa Poikile, có nghĩa là dưới mái hiên, cửa sổ. Mình hay nói vui khắc kỷ là “suy nghĩ bên cửa sổ” khi có ai đó hỏi chủ nghĩa khắc kỷ là gì.

Zeno sáng lập phái khắc kỷ dựa trên ít nhất 3 tư trưởng triết học khác vào năm 300 TCN, lúc đó ông hơn 30 tuổi. Triết học của Zeno bao gồm đạo đức, vật lý và logic. Sau này các nhà Khắc Kỷ La Mã đã thay đổi thành bắt đầu từ logic, vật lý và đạo đức.

Nói đơn giản, triết học khắc kỷ giống như một cánh đồng màu mỡ với Logic là hàng rào bao quanh, Đạo đức là cây trồng và Vật lý là đất. Và Đạo đức là trung tâm trong trong triết học Khắc kỷ: Nếu muốn có một cái cây xanh tốt, bạn sẽ phải lưu ý đến đất và hàng rào xung quanh!

Để thực hành triết học khắc kỷ, mỗi người hãy sống theo Tự nhiên. Tự nhiên ở đây là hãy sống một cuộc đời hạnh phúc, tốt đẹp, và phát triển bản thân thông qua suy luận. Suy luận cũng chính là món quà của thần Zeus, các nhà Khắc kỷ cho rằng chỉ con người mới được ban tặng. Vì thế họ suy luận, con người giống thần thánh hơn mọi tạo vật trong Tự nhiên.

Tuy Zeno và triết học khắc kỷ đến từ Hi Lạp, nhưng cuốn Chủ nghĩa khắc kỷ lại đặt các nhà khắc kỷ La Mã là trung tâm. Lý do thứ nhất là bốn cái tên gồm Seneca, Musonius Rufus, Epictetus và Marcus Aurelius – Hoàng đế La Mã, đều là những nhân vật quan trọng và có ảnh hưởng trong thời đại của mình hơn hẳn các nhà khắc kỷ Hi Lạp.

Lý do thứ hai là mỗi con người này đều có phong cách sống và làm việc điển hình cho triết học khắc kỷ chứ không chỉ là những triết gia chỉ biết suy luận.

2. Cốt lõi của triết học khắc kỷ: tập trung vào cái bạn có thể kiểm soát

Bạn hãy tập trung vào những gì mình có thể kiểm soát, và hiểu những gì mình không thể kiểm soát. Dù đây chỉ là một phần quan trọng trong triết học khắc kỷ, nhưng nó là điều thực tiễn nhất mình muốn chia sẻ. Những lý do khác các bạn hãy tìm đọc trong sách để nắm rõ hơn.

Tác giả William B. Irvine đã phân điều này thành tam phân quyền quyển soát.

  • Những gì bạn có thể kiểm soát hoàn toàn: đặt ra các mục tiêu hoàn thiện bản thân và làm nó tốt nhất trong khả năng có thể của bạn
  • Những gì bạn không thể kiểm soát: trời nắng mưa thất thường, kẹt xe không về kịp bữa tối,…
  • Những thứ bạn kiểm soát một phần: bạn có thể thắng trong thi đấu thể thao nếu làm tốt hơn đối thủ.

Ví dụ cụ thể:

Để thắng trong một môn thể thao đối kháng như quần vợt trong thời điểm trời quá nóng hoặc có mưa nhỏ. Thời tiết là điều bạn không thể kiểm soát. Nhưng bạn đã có sự chuẩn bị tốt nhất cho trận đấu là điều bạn hoàn toàn kiểm soát. Và dù bạn chuẩn bị và chơi tốt đến đâu thì cũng chỉ kiểm soát phần nào khả năng thắng của mình.

Điều rút ra được ở đây là bạn chỉ có thể chơi tốt nhất có thể trong khả năng của mình – cũng là điều bạn kiểm soát tốt nhất mà không cần quan tâm đến thời tiết hay mình có thắng hoặc thua hay không. Chiếu theo luật nhân quả, việc bạn chơi hết sức mình, đồng thời giữ được sự bình thản khi thi đấu sẽ gia tăng khả năng chiến thắng.

Kết luận là khi bạn đạt được những mục tiêu bên trong – những gì bạn kiểm soát được sẽ ảnh hưởng đến yếu tố bên ngoài – những gì không thể kiểm soát và kiểm soát một phần.

3. Hãy luôn tưởng tượng đến những điều tồi tệ nhất

Memento mori – Hãy nhớ ngươi sẽ chết.

Theo truyền thống La Mã, mỗi khi hoàng đế hay các tướng lĩnh thắng trận, họ sẽ được mừng lễ khải hoàn ở Roma. Phía sau họ có nô lệ hai tay cầm vòng nguyện tuế giơ trên đầu và liên tục nhắc nhở họ rằng mọi thứ vinh quang đến đâu, rồi sẽ là tro bụi.

Steve Jobs nói rằng để sống có ý nghĩa nhất có thể thì hãy coi mỗi ngày đều là những giờ phút cuối cùng của mình!

2000 năm trước, triết gia Khắc Kỷ Seneca cũng đã viết thư cho bạn mình với nội dung như vậy: Sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng của bạn. Thậm chí cả ngay trong hiện tại cũng là giây phút cuối cùng.

Marcus Aurelius thì viết: Đừng sống như kiểu trước mắt bạn còn vô số năm để sống. Cái chết luôn phủ bóng lên bạn. Trong khi còn sống và còn có thể – hãy sống cho tốt.

Seneca và Marcus Aurelius trên thực tế đều giàu có, vinh quang tột đỉnh nhưng điều đó cũng không ngăn cản họ suy nghĩ về những tiêu cực, những gì tệ hại nhất có thể xảy ra, dù đó là cái chết.

Điều này sẽ làm cho không ít người nhìn nhận triết học Khắc kỷ rất bi quan và tiêu cực về cuộc sống. Thực tế là khi bạn mỗi ngày nhìn nhận về những gì xảy ra theo cách tệ hại nhất với mình, thì bạn sẽ quý trọng những cái đã có và từng giây phút tồn tại của mình.

Bạn sẽ không to tiếng với người yêu, cha mẹ khi biết một ngày nào đó họ sẽ rời xa mình. Bạn sẽ dành nhiều thời gian hơn với con cái, nếu chẳng may đứa trẻ sẽ chết về dịch bệnh vào ngày hôm sau. Bạn sẽ làm hết sức những gì mình muốn nếu biết rằng mình sẽ chết bất cứ lúc nào do tai nạn, bệnh tật…

Và trên hết việc tưởng tượng về những điều xấu nhất có thể xảy ra, sẽ kéo bạn sống và làm mọi thứ tốt nhất cho mình, chứ không bị lôi kéo vào trào lưu, truyền thông và xã hội tạo ra. Như thế bạn sẽ nhận thức được giá trị nào có lợi với mình và không bỏ phí dù chỉ một giây phút. Việc bạn tập trung vào bản thân thì bạn sẽ tiến bộ là điều chắc chắn. Và việc bạn nghĩ về nỗi đau có thể xảy ra bạn sẽ nhanh vượt qua khi nó đến.

4. Bất cứ ai cũng có thể thực hành lối sống khắc kỷ

Người có tôn giáo hay ngoại đạo, sinh viên hay công chức, nhân viên văn phòng đều có thể học hỏi triết lý và thực hành triết học khắc kỷ vì tính ứng dụng cao của nó. Trong cuộc sống, tình yêu và công việc đều tồn tại những vấn đề có thể, không thể và cả nỗi đau. Triết lý khắc kỷ có thể phần nào giúp bạn đi qua được khó khăn cuộc sống khi bạn thực hành.

Hiểu rõ việc bạn làm, không quan tâm đến yếu tố bên ngoài và tránh xa những yếu tố tiêu cực và hạn chế nó bằng cách chấp nhận và bước qua nó bằng suy luận của chính mình. Bạn sẽ hạnh phúc và tiến bộ khi nhận biết được mọi thứ mình có thể và không thể, thông qua suy nghĩ và hành động để làm cuộc sống của mình trở nên tốt hơn mỗi ngày.

7. ANH MINH review sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ

“Chủ Nghĩa Khắc Kỷ – Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản” Cuốn sách của ngày hôm nay.

Tư tưởng xuyên suốt cuốn sách là

THUẬN THEO TỰ NHIÊN. LÝ TRÍ & ĐỨC HẠNH & BÌNH THẢN

Một vài ý còn nhớ được:

1. Chúng ta không sống mãi, hãy biết trân trọng thời gian và cuộc sống, trân trọng hiện tại và mọi người xung quanh.

Mỗi người xung quanh chúng ta dù ta yêu hay ghét họ đều là vận mệnh gửi đến. => hãy trân trọng, biết ơn.

Những thứ ta được hưởng là may mắn và nó có thể mất đi bất cứ lúc nào, đừng coi bất cứ điều gì là hiển nhiên & bám chấp vào nó nếu không sẽ khổ.

2. Hãy có lý tưởng sống, biết mình muốn gì, vì nếu không bạn sẽ dễ dàng sống lỗi.

3. Từ bỏ tiền tài, danh vọng, đam mê & lạc thú. Sống đơn giản & tối giản.

4. Loại bỏ cảm xúc tiêu cực. Có thể vượt qua được hết tất cả các loại cảm xúc hỷ nộ ái ố. Bình thản với cảm xúc, sự xúc phạm, tuổi già & thậm chí cả cái chết.

5. Có 3 thứ xảy ra trong cuộc đời:

  • Thứ ta không thể kiểm soát
  • Thứ có thể kiểm soát một phần
  • Thứ có thể kiểm soát

=> Dành thời gian và năng lượng cho thứ mình có thể kiểm soát hoặc kiểm soát một phần. Tập trung vào quá trình chứ không phải kết quả, vì kết quả là thứ không thể kiểm soát. Theo luật nhân quả, mình thay đổi quá trình nhất định kết quả sẽ thay đổi.

8. SANG review sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ

Cuốn sách “Chủ nghĩa khắc kỷ” là một món ăn tinh thần không thể thiếu trong thực đơn tủ sách của mỗi người vì những triết lý sống không bao giờ lỗi thời mà sách mang lại. Mình không biết cơ duyên nào đưa các bạn đến tìm đọc cuốn sách tuyệt vời này, riêng mình thì có một cơ duyên rất khác thường đó là cái tựa đề cuốn sách. Chính cái tilte này đã dấy lên trong mình bao nhiêu sự tò mò cùng những bí ẩn, và nó đã thôi thúc mình tìm đọc quyển sách này. Để rồi, những giá trị, học học mình thu được từ sách đã giúp ích mình rất nhiều trong việc loại bỏ những suy nghĩ tiêu cực, biết tiết chế những cảm xúc đến những ham muốn, tham lam vô độ của bản thân hay là biết chấp nhận thực tế theo cái cách mà nó đang vận hành. Những lợi ích, giá trị kể trên là những yếu tố góp phần hình thành nên tâm bình an, sự bình thản của mỗi con người – cũng là mục tiêu cốt lõi mà chủ nghĩa Khắc kỷ hướng đến. Đặc biệt, tác giả đã đưa ra những kỹ thuật tâm lý nhằm giúp độc gỉa có thể thực hành chủ nghĩa khắc kỷ để đạt được sự bình thản – một món quà có lẽ là xa xỉ với nhiều người trong cuộc sống bộn bề với nhiều nỗi lo toan trong trong xã hội hiện đại ngày nay.

Mục tiêu cuối cùng mà chủ nghĩa Khắc kỷ hướng đến là sự bình thản nơi lòng mình, cũng giống như những triết lý của Phật giáo đều hướng con người đến tâm bình an. Một cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp và ý nghĩa hơn nếu ta luôn sẵn có một “tâm bất biến giữa cuộc đời vạn biến’’. Để đạt được một tâm thái an lành như vậy không thể thiếu đi những triết lý. Nói như tác giả:

“Tôi nghĩ có nhiều người có tính cách và hoàn cảnh sống phù hợp để thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ. Hơn nữa, bất kể cuối cùng một người lựa chọn tuân theo một triết lý sống nào, họ cũng sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn so với không có một triết lý sống nào cả’’

Vậy thì triết lý sống của chủ nghĩa Khắc kỷ chứa đựng những yếu tố, kỹ thuật nào được xem như là kim chỉ nam để vươn tới sự bình thản?… để làm rõ hơn về những giá trị của triết lý sống của chủ nghĩa khắc kỷ thì mình đã đúc kết được những bài dạy/ lời khuyên từ chủ nghãi Khắc kỷ và cả tác giả dưới góc độ quan điểm cá nhân:

1. Dạy ta biết tiết chế ham muốn của bản thân

Đây là một trong những bài học đầy giá trị và quan trọng nhất mà chủ nghĩa Khắc kỷ muốn gửi đến cho độc giả. Nói chung, bản chất trong mỗi con người đều là sự tham lam, mong muốn được sở hữu, đạt thêm một điều gì đó, có thể là vật chất nhà cửa, đất tai, tiền bạc,… đến những thứ phi vật chất như danh vọng, địa vị, quyền lực. Ở mỗi người, lòng tham như một cuộc hành trình vô tận khi mỗi người không ngừng ngơi nghỉ truy cầu sự thỏa mãn, hài lòng cho cá nhân bằng việc đáp ứng những ham muốn như là một cách để khẳng định giá trị bản thân và có được niềm vui, hạnh phúc. Những niềm vui sướng hạnh phúc sau những lần “tự thưởng cho bản thân” đến vô độ đó có nơi chốn nào cho sự bền bỉ, lâu dài ngự trị hay chúng chỉ như là ngọn nến bùng cháy trong màn đêm rồi chợt tắt khi trời trở gió. Điều này không phải là sai, nhưng nếu ta cho phép cơn khao khát ham muốn hay lòng tham vô đáy đó trào dâng, kiểm soát và chế ngự lý trí của ta thì ta đã bị bại trận trong cuộc đua trường kỳ mang tên “TIẾT CHẾ”. Thông qua nhữn kỹ thuật tâm lý của chủ nghĩa Khắc kỷ giúp chúng ta nên tự khắc chế, tinh giảm và làm chủ các ham muốn, tham vọng của mình. Để làm được điều đó, chủ nghĩa Khắc kỷ nhắc nhở ta nên biết phân việt đâu là cái ta CẦN và đâu là cái ta MUỐN. “Cần” xuất phát từ nhu cầu sinh tồn (cần ngôi nhà để che mưa che nắng, cần một công việc để chan chải cuộc sống,…), những điều con người cần thì ít. Ngược lại “Muốn” sinh ra từ lòng tham của cái tôi (có nhà chệch thì lại đòi nhà cao cửa rộng, có xe máy lại đua đòi chúng bạn chạy xe moto…). Biết cách phân biệt giữa CẦN và MUỐN sẽ giúp ta giảm thiểu những bất hạnh gây ra bởi ham muốn sở hữu, thâu tóm thế giới bên ngoài để hướng đến một cuộc sống tối giản đúng nghĩa, đích thực cả về vật chất lẫn tinh thần, quả thật “ít hơn có thể là nhiều hơn”.

𝟐. Dạy ta biết trân quý những gì mà ta đang có

Đã bao giờ ta không biết gìn giữ những tài sản mà ta đang sở hữu? Đã bao giờ ta không biết quý trọng và nói lời yêu thương với những người thân xung quanh ta? Đã bao giờ ta nghĩ đến một ngày mình sẽ nhắm mắt xuôi tay, không còn trên cõi đời này nữa khi những mục tiêu lơn lao vẫn chưa thành? Để rồi khi những điều tồi tệ và khủng khiếp đó đến với ta trong hôm nay hoặc ngày mai sẽ khiến ta gục ngã và buông xuôi với những vết thương lòng vẫn hằn sâu vì ta vẫn chưa chuẩn bị cho mình một tâm thế vững vàng để đón nhận và chấp nhận sự thật đó. Thông qua kỹ thuật tâm lý tưởng tượng tiêu cực (negative visualization) – kỹ thuật được cho là quan trọng nhất của chủ nghĩa Khắc kỷ sẽ giúp ta đón nhận cuộc sống của mình bất kể nó ra sao và biết cách chắt lọc niềm vui từ nó. Vì bẩn chất của thế giới là sự vô thường, “vạn vật, kể cả con người, đều chỉ tồn tại trong một thời gian ngăn ngủi và sẽ có ngày tàn lụi”, hợp – tan, thành – bại, được – mất đều là những thanh âm thăng trầm không thể thiếu trong bài ca mang tên cuộc sống. Bằng cách tưởng tượng về một viễn cảnh với những điều tồi tệ có thể xảy ra với mình sẽ trang bị cho ta một tinh thần mạnh mẽ, một tâm thế sẵn sàng để đón nhận những đổi thay cướp đi những niềm vui, hạnh phúc của ta. Thật vậy, chủ động thiết lập một sự trang bị kỹ càng cho bản thân trước những đổi thay mà ta không ngờ sẽ không bao giờ là thừa thãi.

𝟑. Dạy ta biết kiểm soát nỗi lo

Con người luôn có xu hướng lo lắng quá nhiều, sự thật thì mọi thứ xung quanh ta vẫn đang tiếp diễn, thế nên để hạn chế và kiểm soát được nỗi lo lắng có phần thái quá của mình thì chủ nghĩa Khắc kỷ đã đưa ra kỹ thuật tâm lý kế tiếp mang tên “tam phân quyền kiểm soát” nhằm giúp chúng ta chi phối và kiểm soát nỗi lo, nỗi hoài nghi dâng trào trong mình để bản thân luôn duy trì được bình thản. Thông qua kỹ thuật tâm lý này, ta sẽ biết đâu là những điều ta không thể nào kiểm soát được như suy nghĩ, cách nhìn, đánh giá của người khác về ta; đến những điều ta có thể kiểm soát một phần và toàn quyền kiểm soát như mục tiêu, suy nghĩ, hành động đến cảm xúc và tính cách của ta. Đặc biệt, kỹ thuật này còn giúp ta biết cách nội tại hóa mục tiêu (thiết lập, kiểm soát và chi phối đến những yếu tố bên trong ta) thay vì cứ cố gắng thay đổi những yếu tố bên ngoài dẫn đến chán nản, tuyệt vọng.

𝟒. Bước ra khỏi vùng an toàn bản thân

Như đàn chim tung cánh xổ lồng và bay lên bầu trời cao rộng để nhìn ngắm thế giới diệu kỳ, con người cũng không ngừng bức phá để thoát khỏi sự an toàn để chinh phục những miền đất mới. Thông qua những trải lòng cuối sách của cha đẻ quyển sách, người đọc như được tiếp thêm một nguồn năng lượng và cảm hứng dồi dào, tích cực trong việc biết thách thức chính bản thân mình, hay như lời khuyên của tác giả là ta nên “tham gia vào trò chơi chống lại cái tôi khác của bản thân’’. Bằng việc khiến bản thân đối mặt và trải nghiệm những hoàn cảnh có phần mới mẻ, khó khăn sẽ giúp ta trang bị cho mình một ý chí tinh thần mạnh mẽ và bền bỉ, lòng tự tinh vào chính mình khi ta đã vượt qua ngưỡng cửa của sự hồi hợp, của lòng sợ sệt. Bằng việc thử thách chính mình qua những việc làm, cuộc thi, sự việc mới tạo cho bản thân ta khả năng miễn dịch trước những nỗi lo lắng trong tương lai. Biết đâu khi ta cho phép mình dấn thân vào một cuộc hành trình mới như chơi một nhạc cụ, chơi một môn thể thao mới, tìm một công việc mới, độc hành trên mỗi cung đường,… sẽ nâng cấp bản thân ta thành một phiên bản tốt hơn, hoàn thiện hơn so với trước đây.

“Chủ nghĩa Khắc kỷ” là một quyển sách hay và đáng để đọc đối với mỗi người đang trên bước đường đi tìm một cuộc sống ý nghĩa và trọn vẹn. Thông qua những triết lý sống của chủ nghĩa Khắc kỷ, người đọc sẽ có cơ hội soi xét lại chính mình, về thế giới xung quanh và biết cách cải thiện, bồi đắp bản thân từng ngày để xua tan đi bao nỗi muộn phiền, hỗn độn, để nhận được món quà tuyệt vời, món quà mang tên “BÌNH THẢN”.

III. Trích dẫn sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ

Trích dẫn sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ - Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản - William B. Irvine

LINK GIẢM GIÁ FAHASA T I K I SHOPEE

Những trích dẫn hay nhất từ cuốn sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ – Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản

Nếu được hiểu thấu đáo, chủ nghĩa Khắc kỷ sẽ là một phương thuốc trị bệnh. Căn bệnh đó là sự lo lắng, giận dữ, sợ hãi và các cảm xúc tiêu cực khác vốn đang lan nhiễm trong loài người, ngăn cản chúng ta tận hưởng những niềm vui trong cuộc sống. Bằng cách thực hành chủ nghĩa khắc kỷ, chúng ta có thể chữa khỏi được căn bệnh này và có được sự bình thản trong tâm hồn

Chúng ta cần ghi nhớ rằng mọi thứ mà ta coi trọng và những người mà ta yêu thương một ngày nào đó sẽ không còn thuộc về ta nữa. Hoặc là cái chết sẽ mang chúng ta đi. Khái quát hơn, chúng ta nên ghi nhớ rằng bất kỳ hoạt động nào của con người mà không thể tiếp diễn mãi mãi thì ắt phải có một lần cuối cùng. Sẽ có – hoặc đã có! – một lần cuối cùng trong đời mà bạn đánh răng, cắt tóc, lái xe, cắt cỏ hoặc chơi nhảy lò cò. Sẽ có một lần cuối cùng bạn được nghe tiếng tuyết rơi, ngắm trăng lên, ngửi mùi bỏng ngô, cảm nhận sự ấm áp của một đứa trẻ ngủ trong vòng tay bạn, hoặc ân ái. Một ngày nào đó, bạn sẽ ăn bữa ăn cuối cùng của cuộc đời mình, và chẳng bao lâu sau bạn sẽ trút hơn thở cuối cùng

Những ai biết hài lòng là người giàu có. (Lão Tử)

Logic là hàng rào bao quanh, Đạo đức là cây trồng còn Vật lý là đất.

Nếu bạn không có một mục tiêu lớn lao trong đời, tức là bạn không có một triết lý sống chặt chẽ.

Sự trong sạch cho ta thời gian rỗi rãi, sự phóng đáng thì không cho ta một giây nghỉ ngơi. (Seneca)

Thà chết đói mà không phiền não và sợ hãi, còn hơn sống giàu sang và lo lắng, kinh hãi, nghi ngờ và ham muốn vô độ. (Musonius)

Chúng ta không bao giờ có thể vừa hạnh phúc vừa khao khát những thứ không có trong hiện tại. (Epictetus)

Vạn vật, kể cả con người, đều chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi và sẽ có ngày tàn lụi. (Seneca)

“Dòng chảy và sự thay đổi” của thế giới xung quanh chúng ta không phải là một sự tình cờ mà là một phần thiết yếu của vũ trụ.

Một người tốt không thể chào đón những trải nghiệm mà khung cửi vận mệnh dệt cho anh ta chừng nào những trải nghiệm đó chưa xảy ra. (Marcus)

Cơn giận của chúng ta luôn kéo dài lâu hơn những tổn thất mà ta phải chịu. (Seneca)

Ta sẽ coi khinh vinh hoa phú quý dù cho ta có sở hữu nó hay không, ta không ưu phiền khi nó ngoài tầm tay ta, ta cũng không kiêu hãnh khi nó lấp lánh quanh ta. (Seneca)

Epictetus khuyên chúng ta theo đuổi đức hạnh nhưng cũng ngay lập tức nhắc chúng ta rằng “đức hạnh hứa hẹn … tạo ra hạnh phúc, sự tĩnh tâm và thanh thản”

Sức mạnh ý chí cũng giống như sức mạnh cơ bắp, rèn luyện cơ bắp, họ càng trở nên khỏe hơn. Và càng rèn luyện ý chí họ càng trở nên kiên định hơn.

Chúng ta sẽ khám phá ra rằng:“Bản chất của con người rất giống với loài ong. Một con ong không thể sống đơn độc: nó sẽ chết nếu bị cô lập” (Musonius)

Hãy chú ý đến kẻ thù của bạn, vì họ là những người đầu tiên phát hiện ra lỗi lầm của bạn. (Antisthenes)

Thượng Đế không biến người tốt thành con vật nuôi hư hỏng mà thử thách anh ta, tôi luyện anh ta và giúp anh ta sẵn sàng cho nhiệm vụ của mình. (Seneca)

Muốn biết có bao nhiêu người ghen tị với bạn, hãy đếm số người ngưỡng mộ bạn. (Seneca)

Thay vì dành cả đời để làm những việc cần phải làm, chúng ta nên dành thời gian đó làm những việc mình muốn làm.

Seneca cảnh báo rằng những thói hư tật xấu có tính truyền nhiễm: Chúng lây lan nhanh chóng và khó nhận ra, từ những người sở hữu chúng sang những người tiếp xúc.

Chúng ta hoàn toàn không thể kiểm soát quá khứ cũng như hiện tại, nếu định nghĩa hiện tại là chính khoảnh khắc này. Bởi thế, chúng ta đang phí hoài thời gian khi lo lắng về những sự kiện trong quá khứ hoặc hiện tại.

Người có thể thích nghi với những đều kiện khiêm tốn và sống giàu có với tài sản ít ỏi là người đàn ông thực sự giàu có. (Seneca)

Theo đuổi đức hạnh và theo đuổi sự bình thản là những thành phần của một vòng tròn đức hạnh – thật vậy, một vòng tròn đức hạnh kép: Theo đuổi đức hạnh mang lại một mức độ bình thản nhất định, điều đó thành thử lại giúp chúng ta dễ dàng theo đuổi đức hạnh hơn.

Những người thèm khát sự sang trọng thường phải bỏ ra khá nhiều thời gian và năng lượng để có được nó; còn những ai làm ngơ trước sự xa hoa có thể dành nguồn thời gian và năng lượng này cho các công việc khác xứng đáng hơn.

Hãy nhớ rằng mọi thứ chúng ta có đều là “vay mượn” từ Vận mệnh, nó có thể lấy lại mà không cần sự cho phép của chúng ta – kỳ thực là còn không cần thông báo trước. (Seneca)

Người bám chấp vào sự giàu có thì tốt hơn nên bỏ nó đi thay vì cho phép nó đầu độc trái tim của anh ta; nhưng nếu anh ta không bám chấp vào sự giàu có, và có nhiều của cải, sử dụng chúng một cách đúng đắn, thì sẽ là một phước lành cho những người xung quanh anh ta. (Đức Phật)

Chúng ta có thể lãng phí thời gian để ao ước hoàn cảnh sống của chúng ta khác đi, nhưng nếu mặc cho bản thân làm như vậy, chúng ta sẽ sống hoài phí cả đời trong trạng thái bất mãn.

Thay vì nghĩ về danh tiếng trong tương lai, Marcus nói, chúng ta nên quan tâm đến tình trạng hiện giờ của mình; ông khuyên chúng ta nên “tận dụng tốt nhất ngày hôm nay”.

Trích đoạn sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ – Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản

Triết học quan tâm đến cuộc sống

Trong lịch sự nhân loại có lẽ chưa bao giờ vắng bóng các triết gia, theo ý nghĩa nào đó của từ này. Họ không chỉ đặt ra các câu hỏi – chẳng hạn như Thế giới đến từ đâu? Con người đến từ đâu? và Tại sao lại có cầu vồng? – mà quan trọng hơn, họ tiếp tục đặt ra những câu hỏi tiếp theo. Ví dụ khi nói rằng thế giới được các vị thần tạo ra, các triết gia cổ đại sẽ thấy câu trả lời này không đi đến tận cùng vấn đề. Họ sẽ tiếp tục hỏi tại sao các vị thần tạo ra thế giới, họ tạo ra nó như thế nào, và – gây bực bội nhất cho những ai đang cố gắng trả lời các câu hỏi của họ – ai đã tạo ra các vị thần.

Tư duy triết học đã có một bước tiến vượt bậc vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên (TCN). Chúng ta có Pythagoras (570-500 TCN) ở Ý; Thales (636-546 TCN), Anaximander (641-547 TCN), và Heracleitus (535-475 TCN) ở Hy Lạp; Khổng Tử (551-479 TCN) ở Trung Quốc; và Đức Phật (563-483 TCN) ở Ấn Độ. Chúng ta không rõ liệu những cá nhân này có khám phá ra triết lý của họ một cách độc lập hay không; cũng như không rõ ảnh hưởng triết học chảy theo chiều hướng nào, nếu quả thực là có một ảnh hưởng như thế.

Nhà viết tiểu sử người Hy Lạp Diogenes Laertius, từ góc nhìn thuận lợi của thế kỷ thứ ba công nguyên (CN), đã cung cấp một tài liệu lịch sử về triết học thời kỳ đầu rất dễ đọc (nhưng không hoàn toàn đáng tin cậy). Theo Diogenes, triết học phương Tây thời kỳ đầu có hai nhánh riêng biệt. Một nhánh – mà ông gọi là nhánh Ý – bắt đầu với Pythagoras. Nếu tiếp tục lần theo những người kế tục Pythagoras, chúng ta cuối cùng sẽ bắt gặp Epicurus, người khai sinh ra trường phái triết học từng là đối thủ chính của trường phái Khắc kỷ. Một nhánh khác – Diogenes gọi là nhánh Ionian – bắt đầu với Anaximander, người sinh ra (về phương diện trí tuệ và giáo dục) Anaximenes, người sinh ra Anaxagoras, người sinh ra Archelaus, người sinh ra Socrates (469-399 TCN).

Socrates đã sống một cuộc đời phi thường. Cái chết của ông cũng phi thường không kém: ông bị xét xử vì tội làm hư hỏng giới trẻ Athens và những hành vi sai trái khác, bị công dân trong thành kết án tử hình bằng cách uống thuốc độc. Ông có thể tránh được hình phạt này nếu cầu xin tòa khoan hồng hoặc bỏ trốn sau khi bản án đã được tuyên. Nhưng các nguyên tắc triết lý của ông không cho phép ông làm như vậy. Sau cái chết của Socrates, nhiêu học trò của ông không chỉ tiếp tục nghiên cứu triết học mà còn thu hút thêm nhiều học trò gia nhập trường phái của họ. Plato, môn đệ nổi tiếng nhất của Socrates, đã sáng lập học viên Academy, Aristippus sáng lập trường phái Cyrenaic, Euclides sáng lập trường phái Megarian, Phaedo sáng lập trường phái Elian và Antisthenes sáng lập trường phái Yếm thế. Hoạt động triết học từng chỉ là một dòng chảy nhỏ giọt trước thời Socrates đã trở thành một dòng chảy thực sự sau cái chết của ông.

Tại sao mối quan tâm về triết học lại bùng nổ như vậy? Một phần vì Socrates đã thay đổi trọng tâm tìm hiểu của triết học. Trước Socrates, các triết gia chủ yếu quan tâm đến việc giải thích về thế giới xung quanh họ và các hiện tượng của thế giới đó – chính là thứ mà chúng ta bây giờ gọi là khoa học. Mặc dù Socrates từng nghiên cứu khoa học lúc còn trẻ, nhưng ông đã từ bỏ nó để tập trung vào thân phận con người. Như nhà hùng biện, chính trị gia và triết gia La Mã Cicero đã nói, Socrates là “người đầu tiên kéo triết học từ trên trời xuống mặt đất, đặt nó vào các thành phố của loài người, đưa nó đến các gia đình và buộc nó đặt ra những câu hỏi về cuộc sống, đạo đức và những điều thiện ác”. Học giả Francis MacDonald Cornford mô tả tầm quan trọng của triết học Socrates bằng những lời lẽ tương tự: “Triết học tiền Socrates bắt đầu… với công cuộc khám phá Tự nhiên; triết học Socrates bắt đầu với công cuộc khám phá Tâm hồn con người.”

Tại sao sau hai mươi bốn thế kỷ, Socrates vẫn là một nhân vật ấn tượng đến vậy? Đó không hẳn là vì những khám phá triết học của ông; suy cho cùng, những nhận định triết học của ông về cơ bản là bi quan: ông cho chúng ta thấy những điều chúng ta không biết. Theo triết gia Luis E. Navia, “ở đây [Socrates], có lẽ hơn bất kỳ triết gia lớn nào khác, chúng ta tìm thấy tấm gương về một người có khả năng đưa những mối quan tâm mang tính lý thuyết và suy diễn vào cuộc sống sinh hoạt thường ngày”. Navia mô tả ông là “một thí dụ điển hình về hoạt động triết học trong cả tư tưởng lẫn hành động”.

Có lẽ một số người bị Socrates thu hút chủ yếu là do ấn tượng với lý thuyết của ông, còn số khác lại ấn tượng sâu sắc trước lối sống của ông. Plato thuộc về nhóm đầu; tại học viện Academy của mình, Plato thích khám phá lý thuyết triết học hơn là rao giảng lời khuyên về lối sống. Ngược lại, Antisthenes ấn tượng sâu sắc với lối sống của Socrates; trường phái Yếm thế mà ông sáng lập không sa đà vào lý thuyết triết học mà tập trung khuyên nhủ con người cần phải làm gì để có một cuộc sống tốt đẹp.

Như thể Socrates sau khi qua đời đã phân tách thành Plato và Antisthenes, với Plato kế thừa mối quan tâm của Socrates về lý thuyết và Antisthenes kế thừa mối quan tâm của ông với việc sống cuộc đời tốt đẹp. Sẽ thật tuyệt vời nếu hai khía cạnh này của triết học phát triển mạnh mẽ trong những thiên niên kỷ tiếp theo, bởi lẽ con người sẽ nhận được nhiều lợi ích từ cả lý thuyết triết học và việc áp dụng triết học vào cuộc sống. Đáng tiếc là mặc dù khía cạnh lý thuyết của triết học đã trở nên hưng thịnh, khía cạnh thực tiễn lại lụi tàn.

Dưới sự cai quản của một thể chế nhà nước chuyên quyền như Ba Tư cổ đại, khả năng đọc, viết và làm toán rất quan trọng với chính quyền, còn khả năng thuyết phục người khác thì lại bị xem nhẹ. Chính quyền chỉ cần đưa ra mệnh lệnh, những người dưới quyền sẽ răm rắp tuân theo. Tuy nhiên, ở Hy Lạp và La Mã, sự phát triển của chế độ dân chủ đồng nghĩa với việc những người có khả năng thuyết phục người khác sẽ dễ thành công hơn trong sự nghiệp chính trị hoặc luật pháp. Một phần vì lý do này mà các bậc cha mẹ giàu có ở Hy Lạp và La Mã luôn tìm kiếm những người thầy có thể giúp con họ phát triển khả năng thuyết phục người khác, sau khi đứa trẻ hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông.

Các bậc cha mẹ này có thể tìm đến những nhà ngụy biện, đó là những người đặt mục tiêu dạy cho học sinh chiến thắng trong các cuộc tranh luận. Để đạt được mục tiêu này, các nhà ngụy biện sẽ dạy nhiều kỹ thuật thuyết phục khác nhau, gồm cả thuyết phục lý trí và thao túng cảm xúc. Cụ thể, họ dạy học sinh cách tranh luận nhằm ủng hộ hoặc phản bác lại bất kỳ nhận định nào. Cùng với việc phát triển kỹ năng tranh luận của học trò, họ còn phát triển kỹ năng hùng biện của chúng, để chúng có thể truyền đạt hiệu quả các lý lẽ của mình.

Ngoài ra, các bậc cha mẹ có thể tìm đến một triết gia. Giống như các nhà ngụy biện, các triết gia cũng dạy các kỹ thuật thuyết phục, nhưng điểm khác là họ tránh thao túng cảm xúc. Không như các nhà ngụy biện, các triết gia cho rằng bên cạnh việc dạy học sinh cách thuyết phục người khác, họ cũng nên dạy chúng cách sống cho tốt. Bởi thế, theo nhà sử học H. I. Marrou, họ luôn nhấn mạnh đến “khía cạnh đạo đức của giáo dục, sự phát triển của nhân cách và đời sống nội tâm”. Trong quá trình giảng dạy, nhiều triết gia cung cấp cho học sinh một triết lý sống: họ dạy chúng những điều gì đáng để theo đuổi trong cuộc sống và cách tốt nhất để đạt được chúng.

Một số bậc cha mẹ muốn con cái được thụ hưởng nền giáo dục triết học đã thuê các triết gia làm gia sư; ví dụ như Aristotle được vua Philip của Macedonia thuê để kèm cặp Alexander, người sau này trở thành Alexander Đại đế. Những bậc cha mẹ không đủ tiền để thuê gia sư riêng thì sẽ cho con trai họ – con gái thì rất hiếm khi – theo học một trường dạy về triết. Sau cái chết của Socrates, những ngôi trường này đã trở thành nét đặc trưng nổi bật của văn hóa Athens, và đến thế kỷ thứ hai TCN, khi La Mã chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Athens, các ngôi trường triết học cũng bắt đầu xuất hiện ở Rome.

Các ngôi trường triết học hiện không còn tồn tại, và đây là một điều đáng tiếc. Đúng là triết học vẫn còn được dạy ở các trường nhưng so với các trường triết học thời cổ đại, vai trò văn hóa của các khoa triết đã thay đổi hoàn toàn. Bởi một lẽ, hiếm có sinh viên nào học triết ở trường đại học là do khao khát có được một triết lý sống; thay vào đó, họ cố học chỉ vì giáo sư hướng dẫn của họ bảo rằng nếu không học thì không được tốt nghiệp. Và giả dụ họ có muốn tìm kiếm một triết lý sống thì cũng khó tìm được một khóa học cung cấp điều đó tại đa số các trường đại học.

Nhưng cho dù các ngôi trường triết học chỉ còn là dĩ vãng, thì con người thời nay cũng vẫn cần có triết lý sống. Câu hỏi là họ có thể đến đâu để tìm được nó? Nếu đến khoa triết ở trường đại học, như tôi đã giải thích, có lẽ họ sẽ thất vọng. Nếu thay vào đó, họ tìm đến nhà thờ thì sao? Mục sư có thể khuyên họ những điều phải làm để trở thành một người tốt, tức là những điều phải làm để trở thành một người chính trực về mặt đạo đức. Chẳng hạn họ có thể được dạy rằng không được nói dối, ăn cắp hoặc (trong một số tôn giáo) phá thai. Mục sư có lẽ cũng sẽ giải thích những điều họ phải làm để có được một cuộc sống tốt đẹp sau khi chết. Họ nên đi lễ thường xuyên, cầu nguyện và (trong một số tôn giáo) đóng thuế thập phân. Nhưng có lẽ mục sư của họ sẽ không đề cập đến những điều họ phải làm để có được một cuộc sống tốt đẹp. Quả thực phần lớn các tôn giáo, sau khi răn dạy tín đồ những điều họ phải làm để trở thành một người có đạo đức tốt và được lên thiên đàng, lại đều phó mặc họ tự định đoạt những thứ gì đáng và không đáng theo đuổi trong cuộc sống. Các tôn giáo này thấy chẳng có gì sai khi một tín đồ lao động chăm chỉ để mua được một căn biệt thự lớn và một chiếc xe hơi thể thao đắt tiền, miễn là anh ta không làm giàu phi pháp; cũng như họ thấy chẳng có gì sai khi những tín đồ từ bỏ căn biệt thự để sống trong một túp lều và từ bỏ xe hơi để đi xe đạp.

Và nếu các tôn giáo đưa ra lời khuyên cho tín đồ về những gì đáng hoặc không đáng theo đuổi trong cuộc sống, thì họ lại thường đưa ra lời khuyên với thái độ ôn hòa, thành thử tín đồ chỉ xem nó như một gợi ý hơn là một chỉ dẫn về cách sống và do đó có thể bỏ ngoài tai lời khuyên này. Đây là lý do tại sao tín đồ của các tôn giáo khác nhau, mặc cho những khác biệt về niềm tin tôn giáo, rốt cuộc đều có cùng một triết lý sống tự phát, một dạng của chủ nghĩa khoái lạc khai ngộ. Do đó, mặc dù những người theo giáo phái Luther, giáo phái Baptist, Do Thái giáo, giáo phái Mormons và Công giáo có quan điểm tôn giáo khác nhau, nhưng họ lại rất giống nhau khi gặp bên ngoài nhà thờ hoặc giáo đường. Họ làm những công việc giống nhau và có tham vọng nghề nghiệp giống nhau. Họ sống trong những ngôi nhà giống nhau, có đồ nội thất giống nhau. Và họ đều thèm khát những sản phẩm tiêu dùng thịnh hành.

Tất nhiên là một tôn giáo cũng có thể yêu cầu tín đồ tuân theo một triết lý sống cụ thể. Chẳng hạn, giáo phái Hutterite răn dạy tín đồ rằng một trong những điều quý giá nhất của cuộc sống là ý thức cộng đồng. Do đo, tín đồ Huttente bị cấm sở hữu tài sản riêng, lý do là quyền sở hữu sẽ làm nảy sinh cảm giác ghen tị, kéo theo phá vỡ ý thức cộng đồng mà tín đồ Hutterite coi trọng. (Tất nhiên, chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu đây có phải là một triết lý sống đúng đắn hay không.)

Tuy nhiên, hầu hết các tôn giáo đều không yêu cầu tín đồ tuân theo một triết lý sống cụ thể. Chừng nào các tín đồ không làm hại người khác và không chọc giận Chúa, họ có thể tự do sống theo ý mình. Kỳ thực, đa số mọi người cảm thấy giáo phái Hutterite vừa cực đoan vừa kỳ lạ là bởi họ không hình dung nổi bản thân thuộc về một tôn giáo răn dạy họ cách sống cuộc đời mình.

Điều này có nghĩa là ngày nay, hoàn toàn có thể xảy ra chuyện một người nào đó tuy được nuôi dạy trong một tôn giáo và tham gia các khóa triết ở trường đại học nhưng vẫn không có một triết lý sống. (Quả thật đây là tình cảnh mà đa phần các sinh viên của tôi gặp phải.) Vậy thì những người đang tìm kiếm một triết lý sống nên làm gì? Có lẽ lựa chọn tốt nhất của họ là tạo ra cho mình một ngôi trường triết học ảo bằng cách đọc tác phẩm của các triết gia từng đứng đầu các ngôi trường thời cổ đại. Điều này, ở mức độ nào đó, là điều mà tôi sẽ khuyến khích độc giả thực hiện trong những trang tiếp theo.

Vào thời Hy Lạp cổ đại, khi các ngôi trường triết học vẫn là nét đặc trưng của cảnh quan văn hóa, có nhiều ngôi trường mà các bậc cha mẹ có thể gửi con cái theo học. Giả sử chúng ta du hành ngược thời gian về năm 300 TCN và được một triết gia dẫn đi tham quan Athens. Chúng ta có thể bắt đầu hành trình ở Agora, nơi một thế kỷ trước đó, Socrates từng tranh biện với các công dân Athens. Ở phía bắc Agora, chúng ta sẽ thấy Stoa Poikile, còn được gọi là Dãy Cột Sơn, và có thể bắt gặp Zeno xứ Citium, người sáng lập trường phái triết học Khắc kỷ, đang diễn thuyết ở đó. Địa điểm này trên thực tế là một dãy cột lớn được trang trí bằng tranh bích họa.

Trên đường tham quan Athens, chúng ta có thể tình cờ gặp triết gia Yếm thế Crates, người mà Zeno từng theo học. Mặc dù các triết gia Yếm thế thời kỳ đầu thường tụ họp gần nhà thi đấu Cynosarges – nguồn gốc tên gọi của trường phái này* – nhưng chúng ta có thể bắt gặp họ ở bất cứ đâu tại Athens, cố gắng lôi kéo (hoặc lôi xềnh xệch, nếu cần) những người bình thường vào các cuộc tranh luận về triết học. Hơn nữa, trong khi các bậc cha mẹ sẵn sàng cho con cái theo học Zeno, họ lại không khuyến khích chúng trở thành những nhà Yếm thế, bởi nếu tiếp thu tư tưởng của học thuyết này, đứa trẻ tất sẽ lựa chọn sống một cuộc đời cơ cực.

Trong tiếng Anh, chủ nghĩa Yếm thế là Cynicism (Chú thích của Ban biên tập tiếng Việt, từ giờ viết tắt là BT).

Đi về hướng tây bắc và rời khỏi thành qua Cổng Dipylon, chúng ta sẽ đến Khu vườn của những người theo trường phái Epicurean, do chính Epicurus cai quản. Trong khi Dãy Cột Sơn nằm trong thành nên việc giảng bài của các nhà Khắc kỷ chốc chốc lại bị gián đoạn do tiếng phố xá huyên náo hoặc bình luận của người đi đường, thì Khu vườn của Epicurus lại mang hơi hướng thôn dã. Khu vườn này trên thực tế là nơi những người theo trường phái Epicurean tự trồng rau.

Tiếp tục đi về hướng tây bắc, cách Agora khoảng một dặm, chúng ta sẽ đến học viện Academy, ngôi trường triết học do Plato sáng lập năm 387 TCN, hơn một thập kỷ sau cái chết của Socrates. Giống như Khu vườn của Epicurus, học viện Academy là một địa điểm thu hút những người thích tranh biện. Đây là một nơi thoái ẩn giống như công viên, có nhiều lối đi bộ và đài phun nước. Trong khuôn viên Academy là các tòa nhà được xây dựng bằng tiền của Plato và bạn bè ông. Thuyết giảng ở đó vào năm 300 TCN có lẽ là Polemo, người kế thừa vị trí chủ nhân của trường. (Triết gia Khắc kỷ Zeno, như chúng ta sẽ thấy, cũng từng theo học tại trường của Polemo một thời gian.)

Quay trở lại, đi qua thành một lần nữa và ra khỏi cổng thành, dạo bước tới vùng ngoại ô phía đông của Athens, chúng ta sẽ đến Lyceum. Trong khu vực rậm rạp cây cối này, gần một đền thờ Apollo Lykeios, chúng ta có thể thấy những người theo trường phái Peripatetic, học trò của Aristotle, đang vừa tản bộ vừa trò chuyện, và người đứng đầu nhóm có thể là Theophrastus.

Nhưng đây mới chỉ là một vài sự lựa chọn giáo dục đối với các bậc cha mẹ thời cổ đại. Bên cạnh các trường phái được đề cập ở trên, còn có các trường phái Cyrenaic, Hoài nghi, Megarian và Elea đã nói bên trên, cộng thêm một số trường phái khác được Diogenes Laertius đề cập đến, bao gồm các trường phái Eretrian, Annicerean và Theodorean, cùng với các trường phái của những người theo chủ nghĩa hạnh phúc, những người yêu thích sự thật, những người theo chủ nghĩa phản biện, những nhà lý luận theo phép loại suy, những nhà vật lý, những nhà đạo đức học và những nhà biện chứng.

Thật bất ngờ, những chàng trai trẻ không phải là đối tượng duy nhất có mặt tại các trường triết học. Có đôi lúc người cha đi học cùng con trai họ. Còn trong các trường hợp khác, những người trưởng thành tự mình đi nghe các bài giảng. Một số người chỉ đơn thuần là có hứng thú với triết học; có lẽ hồi trẻ họ từng theo học và bây giờ muốn học tiếp về triết lý sống của một trường phái nào đó. Những người khác, mặc dù chưa từng thuộc về một trường phái nào, có thể đến nghe giảng với tư cách khách mời. Động cơ của họ có lẽ cũng giống động cơ của những con người thời nay khi tham dự một buổi diễn thuyết công cộng: họ muốn được mở mang đầu óc và tiêu khiển.

Tuy nhiên, cũng có những người trưởng thành theo học các trường triết học với động cơ mờ ám. Họ muốn thành lập trường phái riêng và đi nghe bài giảng của người đứng đầu các trường phái thành công để vay mượn ý tưởng triết học cho bài giảng của họ. Zeno xứ Citium đã bị buộc tội này. Polemo tố cáo rằng động cơ của Zeno khi đi nghe các bài giảng tại học viện Academy là để ăn cắp các học thuyết của ông.

Các trường phái triết học đối địch dạy các chủ đề khác nhau. Chẳng hạn, các nhà Khắc kỷ thời kỳ đầu không chỉ quan tâm đến triết lý sống, mà còn cả vật lý và lô-gic, vì lý do đơn giản là họ cho rằng các lĩnh vực nghiên cứu đó gắn liền với nhau. Những người theo trường phái Epicurean cũng quan tâm đến vật lý (mặc dù họ có những quan điểm khác về thế giới vật chất so với các nhà Khắc kỷ) nhưng họ không quan tâm đến lô-gic. Còn những người theo trường phái Cyrenaic và thuyết Yếm thế không quan tâm đến cả vật lý cũng như lô-gic, họ chỉ giảng dạy về triết lý sống tại các ngôi trường của mình.

Mỗi trường phái này lại đưa ra cho học trò một triết lý sống khác nhau. Chẳng hạn, những người theo trường phái Cyrenaic cho rằng mục tiêu lớn lao trong cuộc sống là trải nghiệm lạc thú và do đó ủng hộ con người tận dụng mọi cơ hội để trải nghiệm nó. Những người theo chủ nghĩa Yếm thế ủng hộ lối sống khổ hạnh: Họ cho rằng nếu muốn có một cuộc sống tốt đẹp thì bạn phải học cách gần như chẳng mong cầu điều gì. Trường phái Khắc kỷ rơi vào đâu đó giữa trường phái Cyrenaic và trường phái Yếm thế: Họ cho rằng con người nên tận hưởng những điều tốt đẹp mà cuộc đời mang lại, bao gồm tình bạn và sự giàu sang, miễn là ta không bám chấp vào những điều tốt đẹp đó. Thực vậy, họ tin rằng chúng ta nên định kỳ tạm ngừng thụ hưởng những gì cuộc đời mang lại để dành thời gian suy ngẫm về sự mất mát của bất kể thứ gì mà chúng ta đang thụ hưởng.

Tham gia một trường phái triết học là chuyện nghiêm túc. Theo nhà sử học Simon Price: “Trung thành với một trường phái triết học không đơn thuần là để thỏa mãn tâm trí hoặc ra vẻ tri thức. Những người coi trọng triết lý sống của mình sẽ cố gắng sống theo triết lý đó mỗi ngày.” Và giống như tôn giáo có thể là yếu tố then chốt tạo nên bản sắc riêng của một người thời nay, các trường phái triết học cũng là thành phần quan trọng tạo nên bản sắc của một người Hy Lạp hoặc La Mã thời cổ đại. Theo nhà sử học Paul Veyne: “Một triết gia thực thụ là người sống cả đời theo học thuyết của một trường phái, điều chỉnh hành vi (thậm chí cả trang phục) theo nó, và nếu cần, sẵn sàng chết vì nó.”

Do đó, độc giả nên nhớ rằng mặc dù tôi ủng hộ triết lý sống của chủ nghĩa Khắc kỷ, thì đó cũng không phải là sự lựa chọn duy nhất cho những ai đang tìm kiếm một triết lý sống. Hơn nữa, mặc dù các nhà Khắc kỷ cho rằng họ có thể chứng minh triết lý của họ là lẽ sống đúng đắn cho cuộc đời nay thì tôi không nghĩ đó là chuyện khả thi. Thay vào đó, tôi cho rằng một người nên chọn lựa triết lý sống tùy theo tính cách và hoàn cảnh sống của mình.

Nhưng khi thừa nhận điều này, tôi xin nói thêm rằng tôi nghĩ rất nhiều người có tính cách và hoàn cành sống phù hợp để thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ. Hơn nữa, bất kể cuối cùng một người lựa chọn tuân theo triết lý sống nào, họ cũng sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn so với không có một triết lý sống nhất quán.

……

Trên đây là các trích dẫn, trích đoạn trong sách Chủ Nghĩa Khắc Kỷ – Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản – William B. Irvine. Nếu các bạn thấy hay và hữu ích thì đừng quên mua sách giấy để ủng hộ Tác giả và Nhà xuất bản nhé!

Chủ Nghĩa Khắc Kỷ - Phong Cách Sống Bản Lĩnh Và Bình Thản - William B. Irvine

LINK GIẢM GIÁ FAHASA T I K I SHOPEE
Nội dung trên đây được sưu tầm từ nhiều nguồn trên internet. Hãy bấm nút Chia sẻ để giới thiệu sách đến bạn bè!

Những Cuốn Sách Hay trân trọng giới thiệu!

5/5 - (9 bình chọn)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *