Tim Em – Tương Phố

Tim Em - Tương Phố

Bài thơ: Tim Em

Tim em tan nát từ năm ấy
Những vết thương đau mãi chẳng lành,
Tuổi trẻ dễ tin, em những chắc,
Duyên sau chắp lại mối tơ mành.

Hạnh phúc đời em, ai cướp cả?
Em theo ân ái chẳng may gì,
Hờn duyên, em lại nhìn cha khóc,
Ứa lệ, cha em ngoảnh mặt đi!

Từ đấy thương cha em nín khóc,
Cha em thường thấy mặt em vui
Người đời cũng tưởng em sung sướng
Em biết tim em đã nát rồi!

Em cười phong kín hai hàng lệ,
Lệ ứa thương em lỡ cuộc đời,
Thổn thức canh dài em dẫu khóc,
Nhưng mai, son phấn lại tươi rồi!

Vì đứa con côi, em phải sống,
Nuôi con rỏ lệ máu tim hoà,
Muôn vàn hạnh phúc hy sinh hết,
Tim nát, thời gian lặng lẽ qua!…

1933

Nguồn: Tương Phố, Mưa gió sông Tương, NXB Bốn phương, Sài Gòn, 1960

Thông tin về tác giả Tương Phố

Tác giả Tương Phố

Tương Phố tên thật: Đỗ Thị Đàm (1896 – 1973), là nhà thơ nữ Việt Nam, thuộc thế hệ văn học 1913 – 1932.

Tên tuổi của Tương Phố gắn liền với phong trào “Nữ lưu và văn học”, và bà đã có những tác phẩm được đánh giá cao như “Giọt lệ thu” (văn xuôi có xen thơ, 1923), “Tái tiếu sầu ngâm” (thơ, 1930), “Khúc thu hận” (thơ, 1931)…

Tương Phố sinh tại đồn Đầm, tỉnh Bắc Giang, nhưng nguyên quán của bà ở xã Bối Khê, tổng Cẩm Khê, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

Bà là con của ông Đỗ Duy Phiên và bà Nguyễn Thị Yểm. Vừa lớn lên, bà ra Hà Nội học ở trường Nữ hộ sinh, sau bỏ dở, để theo học Trường Nữ Sư phạm, nhưng khi tốt nghiệp, bà không đi dạy. Bà có một cô em gái tên là Đỗ Song Khê, chính là người đã viết bài “Muốn ăn rau sắng chùa Hương” dưới bút danh Đỗ Tang Nữ nhắn gửi thi sĩ Tản Đà năm 1923.

Trong khoảng thời gian ở Hà Nội, bà gặp Thái Văn Du (em ruột Thượng thư Thái Văn Toản), một sinh viên trường thuốc, rồi họ thành vợ chồng năm 1915.

Một năm sau (1916), Tương Phố sinh con trai là Thái Văn Châu, thì chồng bà (khi ấy đã là Y sĩ Đông Dương) phải qua Pháp tham chiến trong cuộc chiến tranh Pháp-Đức (1914-1918). Khoảng cuối năm 1919, chồng bà bị bệnh phổi phải trở về Huế, rồi mất vào mùa thu năm 1920 (ngày 25 tháng 7) khi bà còn đang học ở trường Nữ Sư phạm Hà Nội.

Tương Phố thuộc hàng nữ lưu tân tiến những năm 20 của thế kỷ 20. Bà bắt đầu làm thơ vào khoảng những năm ông Du phải đi xa, và số thơ này đều có chủ đề chung là nỗi nhớ mong chồng.

Sau khi chồng mất, năm 1923 (hoặc 1922) bà viết một bài văn xuôi có xen 8 đoạn thơ lục bát và song thất lục bát, mang tên là “Giọt lệ thu”, được đăng báo năm 1928. Đây là tác phẩm gây được tiếng vang trên văn đàn thời bấy giờ và cũng đã khơi dòng văn chương lãng mạn sầu não trong văn học Việt Nam hiện đại. Bởi nội dung bài là tiếng khóc thê thiết của một người vợ trẻ (Tương Phố) chờ chồng suốt ba năm, nhưng khi chồng (Thái Văn Du) về tới Huế, chẳng bao lâu thì mất. Đầu những năm 30, bài văn này đã được một nữ dịch giả người Pháp dịch ra tiếng Pháp, được một số nhà phê bình Pháp chú ý.

Sau đó bà tiếp tục viết những bài văn thơ cùng loại, đăng báo Nam Phong, về sau được tập hợp thành các tập: Giọt lệ thu, Mưa gió sông Tương, Trúc mai… Bà cũng từng làm thơ xướng họa với nhà chí sĩ Phan Bội Châu, thi sĩ Đông Hồ.

Năm Ất Sửu (1925), bà tái giá với Tuần phủ Phạm Khắc Khánh ở Phúc Yên (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc).

Sau năm 1945, Tương Phố vào sống ở Nha Trang rồi mất ở Đà Lạt vào ngày 8 tháng 11 năm 1973, thọ 77 tuổi. Bà được an táng tại đồi Tương Sơn, TP. Đà Lạt. Hiện nay, ở thành phố cao nguyên này có một đường phố mang tên bà.

Có thể bạn quan tâm:

> Tác phẩm khác của tác giả Tương Phố

> Góc Thơ – Những Bài Thơ Hay

Nội dung trên đây được sưu tầm từ nhiều nguồn trên internet. Hãy bấm nút Chia sẻ để giới thiệu đến bạn bè!

Những Cuốn Sách Hay trân trọng giới thiệu!

5/5 - (9 bình chọn)

Có thể bạn quan tâm

Một Cõi Quên - Hàn Mặc Tử

Một Cõi Quên – Hàn Mặc Tử

MỤC LỤCBài thơ: Tim EmThông tin về tác giả Tương PhốBài thơ: Một Cõi Quên …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *