T.T.KH – Tác giả bí ẩn và những bài thơ buồn bất hủ trong phong trào Thơ Mới

0
671

Tổng hợp các bài thơ của tác giả TTKH

Giới thiệu về T.T.KH

Trong lịch sử văn học Việt Nam, hiếm có tác giả nào lại để lại nhiều dấu hỏi như T.T.KH. Bà là một tác giả ẩn danh của phong trào Thơ Mới (1930–1945), nổi tiếng với bài thơ Hai sắc hoa tigôn – tác phẩm gắn liền với hình ảnh loài hoa buồn và bi kịch tình yêu. Cho đến nay, thân thế thật sự của T.T.KH vẫn là một bí ẩn, chưa có giả thuyết nào đủ thuyết phục công chúng.

Tác giả T.T.KH

T.T.Kh. (tên cách điệu TTKh hay T.T.Kh). Tác giả đã thu hút sự quan tâm của công chúng, báo chí và các nhà khảo cứu văn học Việt Nam, với lượng lớn sách báo ở trong nước lẫn hải ngoại viết về T.T.Kh. bắt đầu từ giữa thế kỷ 20 đến thế kỷ 21. Đã có nhiều suy đoán về danh tính người đứng sau những bài thơ, trong đó hai giả thuyết nổi bật nhất là Thâm Tâm và Trần Thị Vân Chung, kéo theo tranh cãi trong giới thi đàn sau đó.

Các bài thơ do T.T.Kh. sáng tác – tiêu biểu “Hai sắc hoa Tigôn” – đã có được sự đón nhận lâu dài từ người đọc và là nguồn cảm hứng cho những tác phẩm của các nhà thơ cùng nhạc sĩ nổi bật sau này, tạo nên sức ảnh hưởng trong văn hóa đại chúng. Năm 1942, T.T.Kh. được đưa vào cuốn Thi nhân Việt Nam như là một trong những nhà thơ nổi bật của phong trào Thơ mới Việt Nam (1930–1945).

Hành trình xuất hiện đầy bất ngờ

Năm 1937, sau khi truyện ngắn Hoa tigôn của Thanh Châu đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy (Hà Nội), tòa soạn bất ngờ nhận được hai bài thơ do một thiếu phụ khoảng 20 tuổi, dáng nhỏ nhắn, thùy mị, nét mặt u buồn mang đến gửi. Người phụ nữ ấy ký tên T.T.KH, xin đăng báo nhưng từ chối tiết lộ địa chỉ hay danh tính.

Sự xuất hiện đột ngột của T.T.KH nhanh chóng gây chấn động văn đàn. Trong khi tác giả giữ im lặng, một số nhà thơ đương thời như Nguyễn Bính với Cô gái vườn Thanh, hay Thâm Tâm với Màu máu tigôn, đã sáng tác những bài thơ hưởng ứng. Chính điều này càng làm dấy lên nhiều lời đồn đoán, thêu dệt về cuộc đời và mối tình dang dở của tác giả bí ẩn.

Các tác phẩm nổi bật của T.T.KH

Dù chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn, T.T.KH đã để lại 4 tác phẩm quan trọng, rồi hoàn toàn biến mất khỏi văn đàn:

1. Hai sắc hoa tigôn (1937)

Tác phẩm nổi tiếng nhất, gắn liền với hình ảnh hoa tigôn hồng – biểu tượng cho tình yêu dở dang, tan vỡ.

Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn,
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,
Tôi chờ người đến với yêu đương.

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương, cát,
Tay vít dây hoa trắng cạnh lòng.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài trong lúc thấy tôi vui,
Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

Thuở đó nào tôi có hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly,
Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biến suy.”

*

Đâu biết lần đi một lỡ làng,
Dưới trời gian khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá! – Tôi buồn lắm
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…

Từ đó thu rồi thu lại thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ?
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy cho nên vẫn hững hờ!

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tâm bóng “một người”.

*

Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
(Nhưng hồng) tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm pha!

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi:
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu hoa đỏ rụng, chiều thu
Gió về lạnh lẽo, chân mây vắng,
Người ấy ngang sông đứng ngóng đò…

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
Trời ơi! người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa… vỡ
Tựa trái tim, phai tựa máu hồng…?

  • Bài ở đây chép theo bản gốc bài thơ đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy (1937). Một số sách về sau dẫn lại bài thơ có in sai một số chữ và dấu câu. Về xuất xứ của bài thơ, xin xem các bình luận trong phần tác giả T.T.Kh.
  • Bài thơ đã được các nhạc sĩ Anh Bằng và Trần Thiện Thanh phổ nhạc.

2. Bài thơ thứ nhất (1937)

Mở đầu cho chuỗi bi thương, thể hiện nỗi đau và niềm tuyệt vọng của một trái tim đang yêu.

Thuở trước hồn tôi phơi phới quá,
Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương…
Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại,
Êm ái trao tôi một vết thương.

Tai ác ngờ đâu gió lại qua,
Làm kinh giấc mộng những ngày hoa,
Thổi tan tâm điệu du dương trước
Và tiễn Người đi bến cát xa.

Ở lại vườn Thanh có một mình,
Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh;
Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo,
Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành.

Và một ngày kia tôi phải yêu
Cả chồng tôi nữa lúc đi theo
Những cô áo đỏ sang nhà khác,
– Gió hỡi! Làm sao lạnh rất nhiều?

Từ đấy không mong, không dám hẹn
Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm,
Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ,
Người ấy ghi lòng: “Vẫn nhớ em!”

Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên,
Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Rỏ xuống thành thơ khóc chút duyên?

Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ
Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ!
Tóc úa giết dần đời thiếu phụ…
Thì ai trông ngóng, chả nên chờ!

Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá
Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa:
– “Cố quên đi nhé, câm mà nín
Đừng thở than bằng những giọng thơ!”

Tôi run sợ viết, lặng im nghe
Tiếng lá thu khô siết mặt hè
Như tiếng chân người len lén đến.
– Song đời nào dám gặp ai về!

Tuy thế, tôi tin vẫn có người
Thiết tha theo đuổi nữa, than ôi!
Biết đâu… tôi: một tâm hồn héo,
Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.

3. Đan áo cho chồng (1937)

Khác biệt ở chỗ được viết bằng thể lục bát và đăng trên báo Phụ nữ thời đàm. Bài thơ nói lên nỗi khổ tâm của người phụ nữ trong cuộc hôn nhân gượng ép, bị giam cầm trong lễ giáo phong kiến. Tác phẩm này đến nay vẫn còn gây tranh cãi liệu có thực sự cùng tác giả với ba bài còn lại hay không.

“Chị ơi! Nếu chị đã yêu,
Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương,
Đã xa hẳn quãng đời hương,
Đã đem lòng gởi gió sương mịt mùng.

Biết chăng chị? Mỗi mùa đông,
Đáng thương những kẻ có chồng như em.
Vẫn còn thấy lạnh trong tim,
Đan đi đan lại áo len cho chồng.

Như con chim hót trong lồng,
Hạt mưa nó rụng bên song bơ thờ.
Tháng ngày nổi tiếng tiêu sơ,
Than ôi! Gió đã sang bờ ly tan…

*

Tháng ngày miễn cưỡng em đan,
Kéo dài một chiếc áo len cho chồng.
Như con chim nhốt trong lồng,
Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao!

Ngoài trời mưa gió xôn xao,
Ai đem khoá chết chim vào lồng nghiêm?
Ai đem lễ giáo giam em?
Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời…

Lòng em khổ lắm chị ơi!
Trong bao tủi cực với lời mỉa mai.
Quang cảnh lạ, tháng năm dài,
Đêm đêm nghĩ tới ngày mai giật mình!”

4. Bài thơ cuối cùng (1938)

Được xem như lời từ biệt, chứa chan oán trách và nỗi đau khôn nguôi. Đây cũng là tác phẩm khép lại hành trình ngắn ngủi của T.T.KH trong phong trào Thơ Mới.

Anh ạ, tháng ngày xa quá nhỉ?
Một mùa thu cũ, một lòng đau…
Ba năm ví biết anh còn nhớ,
Em đã câm lời, có nói đâu!

Đã lỡ, thôi rồi! Chuyện biệt ly,
Càng khơi càng thấy luỵ từng khi.
Trách ai mang cánh “ti-gôn” ấy,
Mà viết tình em, được ích gì?

Chỉ có ba người đã đọc riêng,
Bài thơ “đan áo” của chồng em.
Bài thơ “đan áo” nay rao bán,
Cho khắp người đời thóc mách xem…

Là giết đời nhau đấy, biết không?
…Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung,
Giận anh, em viết dòng dư lệ,
Là chút dư hương: điệu cuối cùng!

Từ nay, anh hãy bán thơ anh,
Còn để yên tôi với một mình,
Những cánh hoa lòng, hừ! đã ghét,
Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

Ngang trái đời hoa đã úa rồi,
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi…
Buồng nghiêm thơ thẩn hồn eo hẹp,
Đi nhớ người không muốn nhớ lời!

Tôi oán hờn anh, mỗi phút giây,
Tôi run sợ viết, bởi rồi đây
Nếu không yên được thì tôi… chết
Đêm hỡi! làm sao tối thế này?

Năm lại năm qua cứ muốn yên
Mà phương ngoài gió chẳng làm quên;
Và người vỡ lỡ duyên thầm kín,
Lại chính là anh? anh của em!

Tôi biết làm sao được hỡi trời?
Giận anh, không nỡ! Nhớ không thôi!
Mưa buồn, mưa hắt, trong lòng ướt…
Sợ quá đi, anh… “có một người”!…

Giá trị và sức hút của thơ T.T.KH

  • Nỗi buồn bất tận: Thơ T.T.KH là tiếng nói của tình yêu tan vỡ, day dứt, khiến người đọc đồng cảm qua nhiều thế hệ.
  • Biểu tượng hoa tigôn: Hình ảnh này trở thành dấu ấn riêng, gắn chặt với tên tuổi tác giả.
  • Sự bí ẩn: Không ai biết chính xác T.T.KH là ai, điều đó càng làm cho thơ của bà được chú ý, bàn luận và truyền tụng.

Kết luận

Chỉ với 4 tác phẩm ngắn ngủi, T.T.KH đã trở thành một hiện tượng độc đáo trong phong trào Thơ Mới 1932–1945. Những bài thơ như Hai sắc hoa tigôn, Bài thơ cuối cùng, Đan áo cho chồng vẫn khiến độc giả day dứt, rơi nước mắt mỗi khi đọc lại.

Dù danh tính thực sự của bà mãi mãi là một bí ẩn, nhưng chính sự bí ẩn ấy đã góp phần làm nên sức sống bất tử cho thơ T.T.KH trong lòng người yêu văn chương Việt Nam.

 

Có thể bạn quan tâm:

> Tác phẩm khác của tác giả T.T.KH

> Góc Thơ – Những Bài Thơ Hay

Nội dung trên đây được sưu tầm từ nhiều nguồn trên internet. Hãy bấm nút Chia sẻ để giới thiệu đến bạn bè!

Những Cuốn Sách Hay trân trọng giới thiệu!

5/5 - (9 bình chọn)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây